Lịch sử 100 năm của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) có thể được chia thành 28 năm trước khi cướp chính quyền, và 73 năm sau khi nắm quyền, đều nhuốm đầy nợ máu của chính người dân Trung Quốc.

(Ảnh tổng hợp từ 9binh.com và Pixabay)

Trong 28 năm đầu tiên, từ 1921 – 1949, điều quan trọng nhất mà ĐCSTQ đã làm là lật đổ chế độ hợp pháp của Trung Quốc, Trung Hoa Dân Quốc, bằng những thủ đoạn phi đạo đức.

Trong 28 năm này, ĐCSTQ đã giết người trên mọi nẻo đường. Ngoài việc giết kẻ thù ra, họ còn không ngừng giết hại người dân của mình và người dân thường. Dưới đây là 3 ví dụ điển hình:

ĐCSTQ chiến đấu với Nhóm AB và giết 100.000 người

Vào những năm 1930, Mao Trạch Đông đã đi đầu trong việc giết người ở “Khu Liên Xô Trung tâm”.

Tháng 10/1930, lần đầu tiên, Mao Trạch Đông, Tổng chính ủy kiêm Bí thư của Tổng cục Mặt trận Hồng quân khi đó, tiến hành một cuộc thanh trừng lớn của Hồng quân, nhằm trấn áp tất cả các lực lượng đối lập công khai và tiềm ẩn.

Cuộc thanh trừng đó được gọi là phong trào “Chống Nhóm AB” (tổ chức chống Bolshevik), và sau đó mở rộng đến Ủy ban Hành động tỉnh Giang Tây của ĐCSTQ và Hồng quân địa phương của họ ở Tây Nam Giang Tây dưới quyền của mình.

Các thủ đoạn cơ bản là: Tra tấn bức cung, thêu dệt tội ác, và giết người tàn bạo. Theo ghi chép vào thời điểm đó, những người bị bức hại “khóc chấn động trời đất không ngừng bên tai, hình phạt tàn khốc được sử dụng đến cùng cực.”

Tháng 1/1931, Hội nghị Toàn thể lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ khóa VI được tổ chức, chỉ thị được ban hành cho tất cả các cơ quan chi nhánh trung ương, các khu vực Xô viết và Hồng quân phải “đấu tranh tiêu diệt trung đoàn AB và tất cả những kẻ phản cách mạng”.

Họ cử Bác Cổ (Bogu) đến Khu Xô viết Trung tâm, Hạ Hy (Xia Xi) đến Khu Xô viết Tây Hồ Nam và Hồ Bắc, và Trương Quốc Đào (Zhang Guotao) đến Khu Xô viết Hồ Bắc, Hà Nam và An Huy, để chủ trì việc trấn áp quân nổi dậy.

Theo hồi ký của tướng Tiêu Khắc (Xiao Ke) của ĐCSTQ, Khu vực Trung tâm của Liên Xô đã giết chết tổng cộng 100.000 người. Nhiều năm trước cuộc Trường chinh của Hồng quân, quân đội của Trung Hoa Dân Quốc chưa bao giờ tiêu diệt nhiều người như vậy.

Ở phía tây Hồ Nam và Hồ Bắc, Nguyên soái Hạ Long (He Long) của ĐCSTQ kể lại rằng Hạ Hy (Xia Xi) đã “giết những ‘kẻ nổi loạn’ đến mức điên cuồng”. Hạ Long từng van xin Hạ Hy: “Lão Hạ, không thể giết nữa, nếu giết nữa, ông sẽ giết hết bọn họ.”

Tại Hồ Bắc, Hà Nam và An Huy, Nguyên soái Từ Hướng Tiền (Xu Xiangqian) của ĐCSTQ nhớ lại: “Hồ Bắc, Hà Nam và An Huy không tốt hơn Hồ Nam và Hồ Bắc là bao”, “thậm chí vợ tôi đã bị giết.” “Bắt và giết người không dựa vào bằng chứng, mà dựa vào lời thú tội. Nhiều hình phạt thật khủng khiếp.”

Năm 1991, tập “Lịch sử ĐCSTQ” đầu tiên do Văn phòng Nghiên cứu Lịch sử Đảng thuộc Trung ương ĐCSTQ biên soạn và xuất bản từng ghi lại: Cuộc thanh trừng nhóm AB và Đảng Dân chủ Xã hội là sản phẩm của sự suy đoán nghiêm trọng và ép nhận tội, gây nhầm lẫn giữa địch và ta, gây ra nhiều bất công, sai trái, oan sai. Trong số đó, hơn 70.000 thành viên của nhóm AB, 6.352 thành viên của Đảng Dân chủ Xã hội, và hơn 20.000 thành viên của phe cải tổ đã bị giết.

Hơn 20.000 người của Tập đoàn quân Tây Lộ bị xóa sổ

Vào ngày 9 và 22/10/1936, Hồng quân thứ nhất do Mao Trạch Đông chỉ huy lần lượt hội quân với Hồng quân thứ 4 và Hồng quân thứ 2 tại các đồn Hội Ninh, Cam Túc và Tương Đài ở Ninh Hạ.

Sau đó, Mao Trạch Đông ra lệnh cho Tập đoàn quân 30, Tập đoàn quân 9 và Tập đoàn quân 5 của Hồng quân số 4 thành lập Tập đoàn quân Tây Lộ.

Ngày 28/10/1936, họ vượt sông Hoàng Hà và phát động chiến dịch Ninh Hạ. Vì vậy, Đội quân Tây Lộ đã chiến đấu một mình trong Hành lang Hà Tây của Ninh Hạ, và cuối cùng toàn bộ binh sĩ đều bị tiêu diệt.

Sau sự sụp đổ của toàn bộ Tập đoàn quân Tây Lộ, Mao Trạch Đông đã đẩy mọi trách nhiệm lên đầu Trương Quốc Đào (Zhang Guotao), thủ lĩnh chính của Hồng quân số 4 trước đây.

Mao đã viết trong cuốn “Những vấn đề chiến lược trong chiến tranh cách mạng của Trung Quốc” rằng: “Thất bại của Đoàn quân Tây Lộ là thất bại của con đường thoát thân theo chủ nghĩa cơ hội cánh hữu Trương Quốc Đào”.

Vì sao Mao Trạch Đông lại đổ hết trách nhiệm cho Trương Quốc Đào, sau khi chỉ huy Đội quân Tây Lộ và dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ đội quân này?

Bởi vì trên con đường trường chinh, Mao và Trương có những khác biệt lớn về vấn đề đi lên phía bắc và đi về phía nam. Sau khi Trương dẫn quân xuống phía nam, lại lập thêm một trung ương mới, cộng với một lượng lớn binh lính ở Hồng quân số 4 khiến Mao rất lo lắng.

Một mặt, Mao kêu gọi Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ thông qua “quyết định sai lầm của Trương Quốc Đào” “quyết định về việc Trương Quốc Đào thành lập Ban Chấp hành Trung ương thứ 2”, v.v., phê bình Trương nghiêm khắc.

Mặt khác, Trương Hạo (Hao Zhang), đại diện của ĐCSTQ tại Quốc tế Cộng sản, người đã trở lại Diên An, sử dụng danh nghĩa của Quốc tế Cộng sản để lừa dối Trương Quốc Đào đi lên phía bắc.

Sau khi Trương lên phía bắc gặp Mao, Mao một mặt tìm cách tước đoạt quyền lực quân sự của Trương, mặt khác khiến hơn 20.000 người của Hồng quân số 4, ban đầu do Trương chỉ huy, phải mạo hiểm tiến về phía tây. Sau khi Đoàn quân Tây Lộ bị tiêu diệt hoàn toàn, Mao lại đổ tội cho Trương, giáng cho Trương một đòn trí mạng.

Hàng trăm ngàn người chết đói ở thành phố Trường Xuân bị bao vây

Theo cuốn “Cuộc chiến cứu đói Trường Xuân” do cựu phóng viên Đỗ Bân (Du Bin) của New York Times, trong cuộc nội chiến giữa Quốc dân đảng và ĐCSTQ, quân đội ĐCSTQ đã bao vây Trường Xuân, khiến khoảng 370.000 – 460.000 người chết đói.

Cuộc bao vây thành phố Trường Xuân bắt đầu vào ngày 4/11/1947. Mặc dù lúc đó thành phố Trường Xuân chưa bị bao vây chết chóc, nhưng điện từ trạm thủy điện Tiểu Phong Mãn đến thành phố Trường Xuân đã bị cắt, mỏ than bị nổ tung, người dân không kiếm được củi, nhiều người chết vì bị rét cóng và tự tử.

Đến ngày 18/4/1948, Lâm Bưu, chỉ huy quân đội chiến trường Đông Bắc, báo cáo với Mao Trạch Đông rằng ông ta sẽ bao vây. Ngày 5/6, Lâm Bưu ban hành “Biện pháp bao vây Trường Xuân”, “nghiêm cấm mọi người trong thành phố rời khỏi thành phố.”

Cuối tháng 7/1948, Tưởng Giới Thạch đã ra lệnh cho quân Quốc dân Đảng đóng ở Trường Xuân sơ tán người dân trong thành phố, nhưng quân đội ĐCSTQ quyết liệt ngăn cản người dân rời đi.

Một người tị nạn van xin lính canh: “Chúng tôi đều là những người lương thiện, sao có thể nhẫn tâm để chúng tôi chết đói ở đây?” Người này trả lời: “Đây là lệnh của Mao Chủ tịch, chúng tôi không dám vi phạm kỷ luật.” Một người liều lĩnh bước tới, “pằng” một tiếng súng vang lên, và một mạng người mất đi.

Đỗ Bân đã mất 10 năm để viết “Trận chiến chết đói ở Trường Xuân”. Ông nói: “Bằng chứng sao thì nói vậy”, “Đoạn văn nào cũng có cơ sở, trích dẫn nào cũng có nguồn gốc”.

Trong 73 năm sau đó, từ năm 1949 đến nay, điều quan trọng nhất mà ĐCSTQ đã làm là duy trì chế độ độc tài độc đảng bằng mọi cách có thể.

Trong 73 năm qua, ĐCSTQ cũng vẫn giết người trên suốt chặng đường của mình. Mao Trạch Đông giết nhiều người nhất, Đặng Tiểu Bình ra lệnh cho quân đội giết người, và Giang Trạch Dân giết người tà ác nhất.

Những vụ giết người do Mao Trạch Đông khởi xướng

Trong 27 năm cầm quyền (từ 1/10/1949 – 9/9/1976), Mao đã phát động hàng chục chiến dịch chính trị đẫm máu và tàn bạo.

Từ cải cách ruộng đất, tam phản, ngũ phản, đàn áp quân phản cách mạng, chống tập đoàn phản cách mạng Hồ Phong, thanh trừng các phong trào phản cách mạng, chống cực hữu, Đại nhảy vọt, chống lại các bè phái chống ĐCSTQ do Bành Đức Hoài cầm đầu, chống phong trào chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, 4 cuộc thanh trừng, và 10 năm Cách mạng Văn hóa, lần vận động nào cũng đều đi kèm với những cuộc chém giết.

Lấy cuộc Cách mạng Văn hóa kéo dài 10 năm làm ví dụ. Ông Dương Kế Thằng (Yang Jisheng), cựu phóng viên cấp cao của Tân Hoa Xã, kiêm tổng biên tập tờ “Viêm Hoàng Xuân Thu”, cho biết trong bài báo “Lý thuyết và hệ thống chế độ: Những suy ngẫm của tôi về cuộc cách mạng văn hóa”, rằng tại cuộc họp mở rộng của Bộ Chính trị ĐCSTQ sau Phiên họp toàn thể lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, từng tiết lộ số người bị đàn áp và thiệt mạng trong Cách mạng Văn hóa:

  • Có hơn 4.300 vụ giao tranh vũ trang quy mô lớn, và hơn 123.700 người chết;
  • 2,5 triệu cán bộ bị đấu tố, hơn 302.700 cán bộ bị bắt giam bất hợp pháp, và hơn 115.500 cán bộ chết bất thường;
  • 810.000 người thuộc mọi tầng lớp trong thành phố bị gán nhãn là phản cách mạng trong lịch sử, phản cách mạng trong hiện tại, là phần tử bất đồng chính kiến ​​giai cấp, phản cách mạng xét lại, và quan chức học thuật phản động; hơn 683.000 người đã chết một cách bất thường;
  • Hơn 5,2 triệu người nhà của địa chủ và phú hộ (gồm cả một số nông dân trung lưu) bị đàn áp ở các vùng nông thôn. 1,2 triệu địa chủ, phú nông và người nhà của họ chết bất thường;
  • Hơn 113 triệu người phải hứng chịu đòn chính trị ở các mức độ khác nhau, và hơn 557.000 người mất tích.

Từ ngày 21 – 23/8/1980, Đặng Tiểu Bình được nữ nhà báo người Ý Fallaci được phỏng vấn 2 lần tại Bắc Kinh. Bà Fallaci hỏi: “Có bao nhiêu người chết trong Cách mạng Văn hóa?”

Đặng trả lời: “Có bao nhiêu người thực sự chết trong Cách mạng Văn hóa, đó là một con số thiên văn, một con số không bao giờ có thể ước tính được”.

Lý Nhuệ, cựu Bí thư của Mao Trạch Đông, từng nói: “Mao không bao giờ sợ người chết, và bao nhiêu người chết cũng không quan trọng”.

Những vụ giết người do Đặng Tiểu Bình khởi xướng

Vào đầu mùa xuân và mùa hè năm 1989, một phong trào dân chủ của sinh viên “chống chủ nghĩa quan liêu, cần dân chủ và tự do” lan khắp Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh cho quân đội tiến vào Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh, để thực hiện một cuộc đàn áp.

Theo tờ “Next Magazine” của Hồng Kông, việc xem xét các hồ sơ mật của Nhà Trắng ở Hoa Kỳ cho thấy, Chính phủ Hoa Kỳ đã biết được một tài liệu bên trong Trung Nam Hải, thông qua người cung cấp thông tin cho quân đội thiết quân luật của Trung Quốc.

Tài liệu này đánh giá rằng có khoảng 40.000 người đã thiệt mạng và bị thương trong vụ thảm sát “ngày 4/6/1989”, trong đó có 10.454 người đã bị tàn sát.

Có bao nhiêu người chết trong vụ thảm sát Thiên An Môn “ngày 4/6/1989”? Hiện rất khó có được số liệu thống kê chính xác.

Ngoài việc ra lệnh cho quân đội bắn người, Đặng Tiểu Bình còn thực hiện chính sách “giết người” đặc biệt.

Kể từ năm 1979, ĐCSTQ đã thực hiện chính sách “một con”, “mỗi cặp vợ chồng chỉ được phép có một con”, những người vượt quá số lần sinh bị buộc phải phá thai.

Theo số liệu do Ủy ban Kế hoạch hóa Gia đình và Y tế Quốc gia của ĐCSTQ công bố, tính đến năm 2013, Trung Quốc có ít nhất 13 triệu ca phá thai mỗi năm, đứng đầu thế giới, chưa kể 10 triệu ca phá thai nội khoa, và số ca phá thai thực hiện tại các bệnh viện tư nhân.

Nếu tính theo con số 13 triệu mỗi năm, ít nhất 450 triệu thai nhi đã bị giết ở Trung Quốc trong 34 năm, từ năm 1979 – 2013.

Những vụ giết người do Giang Trạch Dân khởi xướng

Chuyện tồi tệ nhất mà Giang Trạch Dân đã làm trong đời là phát động cuộc đàn áp Pháp Luân Công vào ngày 20/7/1999.

Điều tà ác nhất là cuộc tàn sát mổ cướp nội tạng của các học viên Pháp Luân Công còn sống để cấy ghép do Giang khởi xướng.

Ông Hạ Cường, Giám đốc Trung tâm Cấy ghép Gan của Bệnh viện Nhân Tế Thượng Hải, được “Tổ chức Thế giới điều tra về bức hại Pháp Luân Công” (WOIPFG) liệt vào danh sách những người phải chịu trách nhiệm về mổ cướp nội tạng các học viên Pháp Luân Công còn sống.

Ngày 26/1/2005, “Nhật báo Giải phóng” của Thượng Hải đưa tin ông Hạ Cường, Giám đốc Trung tâm cấy ghép gan của bệnh viện Nhân Tế, nói với các phóng viên rằng: “Tôi bị ám ảnh bởi việc cấy ghép gan.” “Bây giờ tôi gần như bị nghiện. Nếu không gặp bệnh nhân trong phòng bệnh một ngày, tôi sẽ cảm thấy bồn chồn. Tôi thực hiện ít nhất 2 – 5 ca ghép gan mỗi tuần.”

Ngày 22/6/2016, luật sư nhân quyền người Canada David Matas và ông David Kilgour – cựu Quốc vụ khanh Canada phụ trách vấn đề châu Á-Thái Bình Dương và phóng viên điều tra cấp cao người Mỹ Ethan Gutmann đã cùng công bố “Báo cáo điều tra về vụ cưỡng bức mổ cướp nội tạng của ĐCSTQ”.

Ba tác giả ước tính số ca cấy ghép nội tạng ở Trung Quốc khoảng 60.000 – 100.000 ca mỗi năm, và có thể lên tới 1,5 triệu ca kể từ năm 2000. Nguồn cung cấp nội tạng chính là các học viên Pháp Luân Công.

ĐCSTQ mổ cướp nội tạng hàng loạt các học viên Pháp Luân Công còn sống là hành động tàn bạo tà ác nhất, kể từ sau cuộc tàn sát người Do Thái của Đức Quốc xã trong Thế chiến thứ Hai.

“Băng đảng nợ máu”, do Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng đứng đầu, đã bức hại Pháp Luân Công, phạm tội ác diệt chủng, tra tấn và tội ác chống lại loài người “chưa từng có trên hành tinh này”.

ĐCSTQ đã giết bao nhiêu người?

ĐCSTQ đã giết bao nhiêu người trong 100 năm qua? Không có số liệu thống kê cụ thể trước năm 1949.

Sau khi ĐCSTQ lên nắm quyền vào năm 1949, theo thống kê của học giả người Mỹ gốc Hoa Tào Trường Thanh, ĐCSTQ có thể đã giết chết 80 triệu người Trung Quốc, “nhiều hơn 2,5 số người bị giết trong toàn bộ Thế chiến thứ Hai”.

Vì sao ĐCSTQ giết người không ngừng nghỉ?

Cơ sở lý luận của ĐCSTQ bắt nguồn từ “Tuyên ngôn Cộng sản” do Marx, tổ tiên của ĐCSTQ, xuất bản năm 1848. Học thuyết cốt lõi của cuốn sách nhỏ này là 2 chữ “giết chóc”: Một là giết về thể xác, tức “cuộc cách mạng bạo lực” do Marx chủ trương. Hai là giết chết tinh thần, tức là “đoạn tuyệt triệt để nhất với các quan niệm truyền thống” do Marx chủ trương.

Phần kết

Trong 100 năm, ĐCSTQ đã giết người như điên dại, và chồng chất nợ máu. ĐCSTQ đã giết nhiều người hơn Stalin, Hitler, và nhiều hơn tất cả các bạo chúa tự cổ chí kim, cả trong và ngoài Trung Quốc.

ĐCSTQ mang vô số nợ máu chồng chất, tích tụ quá nhiều tội ác sâu dày, và đã đi đến tận cùng của lịch sử. Sự hủy diệt của ĐCSTQ là biến đổi thiên tượng lớn nhất hiện nay.

Trước khi Thần đại thanh trừng và đại đào thải ĐCSTQ, tất cả người dân Trung Quốc nên ly khai với ĐCSTQ càng sớm càng tốt, rút ​​khỏi các tổ chức đảng, đoàn, đội của ĐCSTQ, trở về với sự bảo vệ của Thần, bình an vượt qua kiếp nạn.

Vương Hữu Quần
(Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả, đăng trên Epoch Times.)