Cuối tháng 3/2021, Di chỉ Gò Ba Sao (Tam Tinh Đôi / Sanxingdui) ở Tứ Xuyên, Trung Quốc một lần nữa tuyên bố rằng nhiều di tích văn hóa hơn đã được khai quật. Bao gồm hơn 500 cây thiêng bằng đồng, tượng người bằng đồng, mảnh vỡ của mặt nạ vàng và ngà voi. Đây là một phát hiện khác gây chấn động thế giới sau 35 năm trong cuộc khai quật hơn 1.000 văn vật từ hai hố tế thần năm 1986. Đài Truyền hình Trung Ương ĐCSTQ (CCTV) đã phát sóng trực tiếp các hoạt động khai thác trong nhiều ngày và thúc đẩy tuyên truyền mạnh mẽ, đưa vụ việc Gò Ba Sao trở thành tâm điểm chú ý. 

Các mảnh vỡ của chiếc mặt nạ vàng mới được khai quật ở Gò Ba Sao năm 2021. (Ảnh chụp màn hình video)

Trong khi cơ quan ngôn luận của ĐCSTQ đang bận rộn vì hào hứng với việc hâm nóng những khám phá khảo cổ học mới, thì vô số bí ẩn khác nhau chưa được giải đáp của nền văn hóa Gò Ba Sao đã kích thích mọi người nhìn nhận lại lịch sử chân thực của nền văn minh này. Mạng Internet cũng bắt đầu khám phá nền văn hóa Gò Ba Sao và lập luận: Văn hóa Gò Ba Sao là văn hóa Hoa Hạ hay văn hóa ngoại lai, là nền văn minh ngoài hành tinh hay nền văn minh tiền sử? Dẫu nhiều tuyên bố vẫn chưa được kết luận, nhưng có một điểm rằng với việc khai quật các di tích văn hóa Gò Ba Sao, nền lịch sử lâu đời phủ kín bụi này sẽ dần được sáng tỏ dưới ánh mặt trời.

Di tích văn hóa Gò Ba Sao và cuốn sách cổ “Sơn Hải Kinh” chứng nhận lẫn nhau

Khi nói đến “Sơn Hải Kinh” (*), hầu hết người Trung Quốc sẽ không phủ nhận rằng đó là một cuốn sách tuyệt vời được lưu truyền từ nền văn hóa Trung Hoa. Hơn 30.000 từ trong cuốn sách bao gồm hầu hết mọi thứ, từ địa lý cho đến lịch sử, từ động thực vật cho đến khoáng sản, từ tôn giáo đến phong tục dân gian … Chỉ bởi nhiều điều được ghi lại trong đó rất kỳ lạ, như yêu quái và quái vật kỳ dị lưu truyền trong dân gian, rất khác với văn hóa Trung Hoa gần hai đến ba nghìn năm gần đây. Vậy nên nó thường được coi là một cuốn sách cổ về thần thoại thời tiền Tần. Ngay cả Tư Mã Thiên, tác giả cuốn “Sử ký”, sau khi đọc cuốn sách này cũng thấy rất khó tin. Ông thở dài mà rằng: “Tôi không dám nói gì về tất cả quái vật trong “Sơn Hải Kinh”.

Tuy nhiên, nhiều di tích văn hóa được khai quật ở Gò Ba Sao gần như hoàn toàn trùng khớp với những ghi chép có liên quan trong “Sơn Hải Kinh”. Điều này đã mở ra một cánh cửa mới, giúp mọi người hiểu hơn về lịch sử chân thực của nhân loại.

Trước hết, cây thiêng bằng đồng xanh lớn nhất (Cây đồng số 1) được khai quật ở Gò Ba Sao gần như phù hợp với kỷ lục về cây thiêng Phù Tang (tức cây dâu, hay còn gọi là cây mặt trời) trong “Sơn Hải Kinh”! Chiều cao của Cây thiêng đồng xanh số 1 là 3,96m, được chia thành 3 tầng trên, giữa và dưới, mỗi tầng có 3 nhánh, tổng cộng là 9 nhánh. Trên mỗi cành có một bông hoa rủ xuống, và một con chim đứng trên đó. (Xem Hình 1)

Hình 1: Cây thiêng số 1 bằng đồng xanh được khai quật ở Gò Ba Sao. (Ảnh: Public domain)

Theo ghi chép trong cuốn “Sơn Hải Kinh”, có 9 con chim quạ vàng tượng trưng cho mặt trời, trú ngụ trên cây thiêng Phù Tang.

“Có một Dương cốc (nơi mặt trời mọc) ở phía dưới. Trên Dương cốc có cây Phù Tang, nơi 10 mặt trời tắm gội, nằm ở phía bắc nước Hắc Xỉ (răng đen). Một cây lớn sống trong nước, 9 mặt trời ngụ ở cành dưới, 1 mặt trời ngụ ở cành trên.”

9 con chim trên Cây thiêng số 1 bằng đồng ngụ ở trên cành, tương ứng chính xác với câu “9 mặt trời ngụ ở cành dưới” của chim quạ vàng trên cây Phù tang.

Vì vậy, theo lời mô tả “Một mặt trời ngụ ở cành trên” của “Sơn Hải Kinh”, phải chăng nên có một con quạ nữa tượng trưng cho mặt trời sống trên ngọn cây thiêng?

Thật vậy, từ lâu, các nhà khảo cổ học và du khách đã phát hiện ra rằng đỉnh của “Cây thiêng bằng đồng xanh” có bị gãy ngọn và không hoàn chỉnh. Phải chăng nó đã bị thất lạc trong quá trình lịch sử quá lâu đời?

Đồng thời, các hoa văn rồng trên “Cây thiêng bằng đồng xanh” và rồng và con quỳ (một con như con rồng nhưng ở trong gỗ, đá, chỉ có một chân) trên đồ đồng mới được phát hiện đều có thể tìm thấy nguyên mẫu trong “Sơn Hải Kinh”.

Không chỉ vậy, cây đồng xanh số 3 mới xuất hiện tại Gò Ba Sao có 3 bức tượng đồng đầu người thân chim đứng trên ngọn cây (hình 2, bên trái), giống với câu mô tả trong “Kinh Đông hải ngoại – Sơn Hải Kinh”: “Câu Mang (nhân vật trong thần thoại Trung Quốc) của phương Đông, thân chim mặt người”. Theo “Sơn Hải Kinh”, Câu Mang là người đàn ông chăm sóc cây Phù Tang linh thiêng.

Hơn nữa, nhiều tượng người bằng đồng có hình đầu người, mình rắn cũng được khai quật ở Gò Ba Sao  (hình 2, 4 bên phải), cũng đối ứng với những ghi chép trong “Sơn Hải Kinh”. Ví dụ, các vị thần cổ đại quen thuộc như Phục Hy và Nữ Oa đều mang hình tượng đầu người, thân rắn.

Hình 2: Tượng người bằng đồng được khai quật ở Gò Ba Sao. Bức thứ nhất bên trái là tượng đồng đầu người mình chim, 4 bức bên phải là tượng người đầu người mình rắn bằng đồng xanh. (Ảnh: Public domain)

Ngoài ra, phần “Sơn kinh” (Kinh bàn về Núi) của “Sơn Hải Kinh” còn được gọi là “Ngũ Tạng Sơn kinh”. Hậu thế cho rằng “Tạng (Kho chứa đồ) là một ký tự phổ biến đồng âm với chữ “Tạng (Nội tạng), thông với “Ngũ tạng”. Nên hiểu như thế nào về “Ngũ tạng” của trái đất?

Nếu so sánh hình dạng của ngũ tạng với hình dạng của lớp vỏ các châu lục, có thể thấy rằng Úc là trái tim, Châu Phi và Nam Mỹ là lá phổi, Bắc Mỹ là lá lách, Greenland là thận, châu Âu- châu Á là gan.

Nam Cực tương ứng với bộ não của con người. Trong đó Tây Nam Cực là đại não, Đông Nam Cực là tiểu não, và bán đảo kéo dài từ Đông Nam Cực đến Nam Mỹ là thân não. Hơn nữa, theo nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ, “Sơn Hải Kinh” đã mô tả chi tiết tình hình ở miền đông Bắc Mỹ như Great Lakes và lưu vực sông Mississippi. Trong kinh thứ 9 và thứ 10, nhiều vùng của châu Mỹ được mô tả rất chính xác.

Ngoài ra, cảnh được mô tả trong chương 14 của “Đại Hoang Đông Kinh”: “Sau ánh hào quang”, “dòng sông chảy vào vực thẳm”, “mặt trời hạ sinh như thế” chính là cảnh mặt trời mọc tại Grand Canyon, Colorado (một tiểu bang phía Tây ở miền trung Hoa Kỳ) ở Bắc Mỹ.

Vì vậy, ngày càng nhiều người nhận ra rằng “Sơn Hải Kinh” không phải là chuyện thần thoại, mà là ghi chép lịch sử chân thực. Ngày nay, những di tích văn hóa được khai quật ở Gò Ba Sao một lần nữa xác nhận những ghi chép trong “Sơn Hải Kinh”. Nhiều cư dân mạng đã thốt lên: “Chuyện thần thoại vốn là câu chuyện về các vị thần, và tất cả đều có thật”. “Lịch sử chân thực theo dòng thời gian dần trở thành những câu chuyện thần thoại!” “Thần thoại và truyền thuyết là lịch sử có thật”…

Nếu “Sơn Hải Kinh” thực sự là một ghi chép lịch sử chính xác và chặt chẽ, thì những trận lũ lụt thời tiền sử, câu chuyện Đại Vũ trị thủy từng được coi là chuyện thần thoại và truyền thuyết, phải chăng đều là sự thực?

Liệu những “chuyện thần thoại” như trận đại hồng thủy và câu chuyện Đại Vũ trị có được khoa học hiện đại thừa nhận?

Trận lụt lớn do Đại Vũ trị thủy, được ghi lại trong “Sơn Hải Kinh” xảy ra dưới thời trị vì của vua Nghiêu, ước tính vào khoảng 4.400-4.300 năm trước. Trận lụt lớn trong thời kỳ con tàu Noah được ghi lại trong “Kinh thánh” của phương Tây cũng xảy ra cách đây khoảng 4.400-4.300 năm. Hai trận lũ lớn được ghi nhận ở phương Đông và phương Tây trùng khớp hoàn toàn về thời gian. Theo ghi chép, trận đại hồng thủy toàn cầu này là thảm họa toàn cầu gần nhất của nhân loại ngày nay. Nó gần như phá hủy hoàn toàn nền văn minh nhân loại thời bấy giờ.

Mặc dù câu chuyện Đại Vũ trị thủy ở Đại Lục được người người biết đến. Những công trình khổng lồ và khó khăn như nạo vét 9 dòng sông và khai thông cửu châu (Trung Quốc Đại Lục) ấy, khiến những người theo khoa học thực nghiệm không thể tin rằng Đại Vũ thời cổ đại “lạc hậu” lại có thể thành công đến vậy. Cộng thêm việc thiếu bằng chứng khảo cổ học suốt một thời gian dài, nên chúng thường được coi là những câu chuyện thần thoại.

Tuy nhiên, một bài nghiên cứu đăng trên tạp chí “Science” năm 2016 đã khẳng định rằng một trận lũ lụt thực sự đã xảy ra ở Trung Quốc khoảng 4.000 năm trước. Tác giả chính của bài báo này là Tiến sĩ Ngô Khánh Long, một nhà địa chất tại Đại học Sư phạm Nam Kinh.

Ngay từ năm 2007, Tiến sĩ Ngô Khánh Long đã phát hiện trên bờ sông Hoàng Hà một số trầm tích có độ dày khác thường, dày tới 20 mét, và chúng trông giống như “trầm tích sau một trận lũ lụt”. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích carbon trên các chất hữu cơ có trong trầm tích lũ lụt. Kết quả cho thấy trận lũ xảy ra cách đây khoảng 4.000 năm, trùng khớp với trận lũ lịch sử được ghi lại trong thời Đường Nghiêu, Ngu Thuấn và Hạ Vũ.

Đồng thời, giới khảo cổ học cũng liên tục có những bằng chứng mới ủng hộ sự tồn tại chân thực của trận lụt lớn này. Từ năm 1999, Viện Di tích Văn hóa thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc đã tiến hành khai quật khảo cổ học tại di chỉ Lạt gia (Lajia) (ở thôn Lạt Gia, huyện Dân Hòa, phía đông nam tỉnh Thanh Hải, bờ bắc sông Hoàng Hà). Họ phát hiện ra rằng đây là di chỉ một thôn làng có từ 4.300 đến 3.900 năm trước. Nhiều hài cốt người được khai quật vẫn ở trong trạng thái bị đóng băng tức thì (Hình 3). Vì vậy di chỉ Lạt gia còn được gọi là “Thành Pompeii của phương Đông”.

Hình 3: Hài cốt người được khai quật từ di chỉ Lạt Gia tại “Thành Pompeii của phương Đông” có trạng thái “bị đóng băng tức thì”. (Ảnh: Public domain)

Các nhà nghiên cứu suy luận từ những di tích văn hóa và di thể khai quật được rằng làng Lạt Gia nằm trên bờ bắc sông Hoàng Hà đã nhanh chóng bị chôn vùi bởi lớp bùn dày do một trận lũ quét qua từ 4.000 năm trước. Điều này trùng khớp với nghiên cứu của Tiến sĩ Ngô Khánh Long và những ghi chép về trận lũ lụt kinh hoàng trong “Sơn Hải Kinh” đã chứng thực cho nhau.

Ngoài ra, những chiếc khánh khổng lồ bằng đá, dao ngọc, và ngọc bội được khai quật tại di chỉ Lạt Gia cho thấy nền văn minh nơi đây đã đạt đến trình độ rất cao, chứ không chỉ là một “ngôi làng nguyên thủy” như người hiện đại nghĩ.

Về nghiên cứu của Tiến sĩ Ngô Khánh Long, phó tổng biên tập tạp chí “Science” cho biết: “Nghiên cứu này mở rộng hiểu biết của chúng ta về nền văn minh Trung Hoa cổ đại. Đồng thời chứng minh nguồn gốc nền văn minh này và sự xuất hiện của hoàn cảnh xã hội của nền văn minh cổ đại.”

Ông David Montgomery, một nhà địa chất học tại Đại học Washington, tin rằng nhóm nghiên cứu của ông Ngô Khánh Long đã cung cấp bằng những chứng thuyết phục rằng trận lụt ấy đã xảy ra: “Hiện giờ chúng ta đã biết rằng trận lụt ở Trung Quốc là có thật. Vậy phải chăng những câu chuyện thảm họa cổ xưa khác cũng là sự thật?”

Những lời bình luận của ông Montgomery tự nhiên sẽ khiến mọi người nhớ tới thảm họa đại hồng thủy được ghi lại ở phương Tây và câu chuyện về con tàu Noah.

“Thánh Kinh” ghi lại rằng: “Khi ông Noah 600 tuổi, vào ngày 17 tháng Hai, các con suối trong vực thẳm đều nứt ra, các cửa sổ trên trời cũng mở ra. Mưa lớn rơi xuống mặt đất suốt 40 ngày đêm. Đúng vào ngày đó, Noah và 3 người con trai của ông là Shem, Ham và Japheth, cũng như vợ và ba con dâu của ông Noah, tất cả đều bước lên tàu ….”

“Nước dâng đầy khắp mặt đất suốt 40 ngày. Nước dâng lên khiến con thuyền nổi lên khỏi mặt đất. Nước lớn đến nỗi vọt lên mặt đất, con thuyền chòng chành trên mặt nước … Ngày 17/7, con tàu dừng lại trên Núi Ararat.”

Núi Ararat được đề cập trong Kinh thánh nằm gần biên giới đông bắc tỉnh Iğdır của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay và là đỉnh núi cao nhất ở nước này. Năm 1960, “Life”, tạp chí kỳ cựu của Mỹ, đã đăng một bức ảnh vệ tinh do máy bay trinh sát Thổ Nhĩ Kỳ chụp ở độ cao 10.000 feet, cho thấy rõ rằng có một tàn tích hình con tàu gần núi Ararat. Sau khi được công bố, bức ảnh đã thu hút rất nhiều nhà khoa học đến khám phá.

Năm 1977, nhà thám hiểm người Mỹ Ronald Eldon Wyatt đã dẫn đầu một đoàn thám hiểm đến núi Ararat. Họ phát hiện ra rằng khoảng cách từ mũi tàu tới đuôi tàu trong tàn tích hình con tàu dài 515 feet (khoảng 157m) (Hình 4). Điều này về cơ bản là trùng khớp với mô tả về chiều dài của Con tàu Noah trong Kinh thánh.

Hình 4: Tàn tích hình con tàu trên núi Ararat ở Thổ Nhĩ Kỳ, trùng khớp với Con tàu Noah được mô tả trong Kinh thánh. (Bản vẽ của Epoch Times, dựa trên ảnh chụp màn hình video)

Do quá lâu đời, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng Con tàu Noah đã bị hóa đá. Họ cũng nhận thấy những thanh gỗ hóa thạch có dấu vết của quá trình gia công. Nó được ghép từ 3 tấm gỗ bằng keo hữu cơ, tấm gỗ ngoài cùng còn được phủ một lớp nhựa đường.

Cuối năm 2019, nhà khảo cổ học Andrew Johns và nhà địa vật lý John Larsen đã sử dụng công nghệ hình ảnh 3D mới nhất, gửi tín hiệu điện xuống mặt đất thông qua cáp điện. Họ phát hiện ra rằng những gì được chôn vùi dưới lòng đất thực sự là một thân tàu. (Hình 4, dưới cùng bên phải)

Năm 2008, một đoàn thám hiểm gồm các nhà thám hiểm người Hồng Kông và người Thổ Nhĩ Kỳ đã thành công khi tiến vào di chỉ của con tàu có cấu trúc bằng gỗ khổng lồ này. Họ đã tìm thấy đồ gốm, dây thừng và những thứ giống như hạt giống trên thuyền. Đoàn thám hiểm đã tiến hành kiểm tra nguyên tố carbon trên tấm ván và phát hiện ra rằng mẫu gỗ này có thể có nguồn gốc từ hơn 4.000 năm trước. Điều này trùng khớp với sự tồn tại của Con tàu Noah được ghi lại trong Kinh thánh.

Một thành viên của đoàn thám hiểm Hồng Kông là ông Dương Vĩnh Tùng, một nhà làm phim tài liệu Hồng Kông. Ông đã tận mắt chứng kiến ​​chi tiết về tàn tích của con tàu và nói: “Dù không chắc chắn 100% đó là Con tàu Noah, nhưng chúng tôi có thể chắc chắn đến 99,9% về điều này.”

Ngoài ra, điều đáng kinh ngạc là những chiếc đinh tán hình đĩa lớn được tìm thấy trong những tấm gỗ hóa thạch của Con tàu Noah. Chúng là hợp kim của sắt, nhôm và titan, có độ bền cao và chống ăn mòn. Điều này cho thấy từ hơn 4000 năm trước đã có công nghệ luyện kim rất tuyệt vời.

Về điểm này, kỹ thuật luyện kim tiên tiến tương tự cũng được tìm thấy trong các di tích văn hóa được khai quật ở Gò Ba Sao. Ví dụ, nhiệt độ xử lý của mặt nạ vàng vượt quá 1.000 độ C. Ngoài ra, cây thiêng bằng đồng được đúc, tán, và đúc chèn vô cùng chính xác. Hơn nữa, kẽm và chì trong nhiều đồ đồng đã được chiết xuất và tách bỏ.

Phải biết rằng theo thuyết tiến hóa, thời điểm đó đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ thời kỳ đồ đá sang thời kỳ đồ đồng. Do đó, những di tích văn hóa Gò Ba Sao đã vượt quá xa so với nhận thức của con người ngày nay về trình độ kỹ thuật thời đó.

Nền văn minh tiền sử liên tiếp xuất hiện, thuyết tiến hóa đứng trước bờ vực phá sản?

Theo thuyết tiến hóa của Darwin, loài vượn người, “tổ tiên” của loài người, xuất hiện cách đây khoảng 3-4 triệu năm. Trong quá trình liên tục tiến hóa này, mãi đến 100.000 năm trước ở Nam Phi, loài người với các đặc điểm giải phẫu người hiện đại mới xuất hiện. Trong khi nền văn minh thực sự của loài người, nghĩa là chuyện cách đây hàng ngàn năm, cách ngày nay không quá 10.000 năm.

Tuy nhiên, hơn một thế kỷ qua, các nhà khảo cổ học từ khắp nơi trên thế giới đã liên tục khai quật được một số di tích văn hóa thời tiền sử. Trình độ kỹ thuật cao siêu và tuổi đời của nó vượt xa sự hiểu biết của khoa học hiện đại về lịch sử loài người.

Hàng trăm quả cầu kim loại có rãnh đã được tìm thấy trong địa tầng của sườn núi Clark ở Nam Phi. Địa tầng này có lịch sử 2,8 tỷ năm (Hình 5, A). Năm 1972, Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Pháp và các nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới, đã phát hiện ra 6 lò phản ứng hạt nhân lớn gần mỏ uranium tại nước Cộng hòa Gabon ở Châu Phi. Chúng được hình thành cách đây 2 tỷ năm và đã hoạt động ít nhất 500.000 năm vào thời điểm đó (Hình 5, B).

Năm 1968, Hoa Kỳ đã khai quật một mảnh hóa thạch Bọ ba thùy, có cả dấu chân một người đang đi giày dẫm lên. Chiếc giày này dài 26 cm và rộng 9 cm. Đây là kích thước phổ biến cho giày nam của người trưởng thành (Hình 5, C). Năm 1851, bang Massachusetts, Hoa Kỳ đã khai quật được một chiếc bình kim loại làm bằng hợp kim kẽm-bạc. Theo kết quả khảo sát nó có niên đại ít nhất 100.000 năm tuổi (Hình 5, D).

Trong một viện bảo tàng ở Peru, có một phiến đá khắc hình một người đàn ông đang quan sát thiên thể bằng kính viễn vọng. Viện Mỏ và Dầu khí của Đại học Bonn đã xác định niên đại của lớp oxit của rãnh đá này và nhận thấy rằng lớp oxit này có ít nhất 12.000 năm tuổi (Hình 5, E). Tuy nhiên, ngày nay người ta thường tin rằng nhà vật lý học người Ý Galileo đã phát minh ra kính thiên văn, đến nay nó mới chỉ tồn tại hơn 400 năm.

Hình 5: Những tàn tích của nền văn minh nhân loại thời tiền sử liên tục mâu thuẫn với thuyết tiến hóa của Darwin. (Bản vẽ Epoch Times, trên Public domain)

Có vô số ví dụ không kể xiết về các nền văn hóa tiền sử tương tự. Cuốn Forbidden Archeology của 2 nhà khảo cổ học MichaelA. Cremo và Richard Thompson đã liệt kê 500 di tích được xác nhận của nền văn minh nhân loại, có niên đại hàng chục ngàn năm, thậm chí hàng tỷ năm trước. Những bằng chứng khảo cổ này đã trực tiếp thách thức thuyết tiến hóa. Do đó chúng đã trở thành vùng cấm mà những người ủng hộ thuyết tiến hóa phải lẩn tránh.

Về nguồn gốc của loài người, đặt trước nhân loại chỉ có 2 khả năng: Một là thuyết con người do Thần tạo ra và hai là thuyết tiến hóa. Ngày nay, thuyết tiến hóa với vô số kẽ hở đang trên đà phá sản trước thách thức của nền văn minh tiền sử. Tin rằng trong tương lai gần, con người sẽ tìm thấy nguồn gốc thực sự của mình.

Trên thực tế, năm đó sau khi đưa ra “Thuyết Tiến hóa”, Darwin cũng không mấy tự tin. Bởi nó thực sự thiếu đi quá trình chuyển đổi trung gian trong hành trình tiến hóa loài và khó có thể biện minh cho điều đó. Tuy nhiên, giả thuyết chưa được chứng minh này lại được coi là một tiêu chuẩn trong xã hội hiện đại, thậm chí còn được đặt lên đại lễ đường sang trọng ở Trung Quốc.

Một số nhà khoa học dám đối mặt với thực tế đã đưa ra giả thuyết về nền văn minh tiền sử. Họ tin rằng sự phát triển của nhân loại không giống với thuyết tiến hóa, mà là sự phát triển mang tính chu kỳ. Nghĩa là những thảm họa của trái đất trong các thời kỳ khác nhau đã phá hủy nền văn minh thời đó. Những người sống sót lại bắt đầu sinh sôi và phát triển từ trạng thái sơ khai. Sau đó bước vào nền văn minh tiếp theo, và lại trải qua những thảm họa thảm khốc, cứ liên tục lặp lại như vậy …

Về trận lụt thời tiền sử gần nhất với nhân loại kỳ này, các ghi chép liên quan đã được tìm thấy ở hơn 250 nhóm dân tộc chính và hơn 80 vùng ngôn ngữ trên thế giới. Hàng ngàn năm trước, khi giao thông và thông tin liên lạc chưa phát triển, những ghi chép tương tự từ khắp nơi trên thế giới ấy, không thể là những câu chuyện thần thoại bịa đặt. Hơn nữa, các nghiên cứu địa chất và khảo cổ học ngày nay cũng không ngừng xác nhận rằng trận lụt thời tiền sử không phải chỉ là truyền thuyết, mà là một câu chuyện có thực từng xảy ra.

Vậy, tại sao nhân loại lại trải qua những thảm họa kinh hoàng hết lần này đến lần khác trong lịch sử?

Theo mô tả của Kinh thánh, thảm họa của trận đại hồng thủy này là do đạo đức của con người sa đọa, không đủ tiêu chuẩn làm người, do tội lỗi chồng chất nghiêm trọng. Vậy nên, cuối cùng con người đã bị Đức Yehovah trừng phạt.

Những câu chuyện thần thoại được lưu truyền ở Hy Lạp cũng cho thấy thời bấy giờ lòng người hiểm ác, ỷ mạnh hiếp yếu. Cuối cùng con người cũng phải gánh chịu sự trừng phạt của hoàng đế Zeus. Trong trận lụt thời tiền sử ở Trung Quốc, Nữ Oa đã vá trời, cứu dân thường khỏi cảnh nước lửa. Những người sống sót sau thảm họa chính là những người đã giữ vững sự thiện lương.

“Khải Huyền” trong Kinh Thánh viết, thế hệ nhân loại sau khi dân Israel phục quốc sẽ được thấy Đấng Messiah, đấng cứu thế. Khi ấy Thần sẽ trở lại. Cuối cùng sẽ có một cuộc đại thẩm phán. Nhưng trong quá trình này đạo đức của nhân loại cũng đã trượt dốc và ôn dịch xuất hiện.

Trong Kinh Phật chép, khi hoa Ưu Đàm 3.000 năm mới khai nở một lần nở rộ (Hình 6), Chuyển Luân Thánh Vương sẽ hạ thế truyền Pháp độ nhân. Ngoài ra, nhiều dân tộc khác cũng lưu lại truyền thuyết rằng cuối cùng Thần sẽ trở lại và nhân loại sẽ phải đối mặt với thảm họa vào thời mạt kiếp.

Hình 6: Trái: Tháng 7/1997, trụ trì một tu viện ở huyện Quảng Châu, thành phố Goyang – is, tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc, đã phát hiện ra hoa Ưu Đàm nở rộ trên một bức tượng Phật bằng đồng thau. Hai thập kỷ sau, hoa Ưu Đàm đã nở rộ khắp nơi trên thế giới. Phải: Hoa Ưu Đàm dưới kính hiển vi điện tử 400X, với cuống hoa trong suốt.

Nếu những “câu chuyện thần thoại” này thực sự là lời của Thần, thì chúng ta cũng nên nhìn lại thời đại mà nhân loại ngày nay đang sống như thế nào, và làm thế nào mới có thể tránh lặp lại vết xe đổ một lần nữa?

Kết luận

Trong dòng sông dài lịch sử, nhân loại đã trải qua quá nhiều nền văn minh cổ xưa và những điều kỳ diệu. Khi lớp bụi thời gian phủ dày những trang sử, khiến lịch sử trở nên nhạt nhòa, chúng dần được hậu thế coi là những câu chuyện thần thoại và truyền thuyết.

Thuyết tiến hóa hư cấu chẳng khác nào đang khóa thêm từng lớp cùm nặng nề phong kín những trang sử phủ dày lớp bụi thời gian, ngăn cản con người nhìn rõ lịch sử chân thực và chân lý của cuộc sống.

May mắn thay, một phần của chiếc chìa khóa mở ra gông cùm lịch sử ấy vẫn được cất giấu trong những gì còn sót lại của nền văn minh tiền sử, trong đó có di chỉ Gò Ba Sao. Theo giám đốc của Viện nghiên cứu khảo cổ Gò Ba Sao, tổng diện tích của khu vực này đã lên tới 12 triệu m2. Trong khi tổng diện tích của tất cả các cuộc khai quật mới chưa đến 20.000m2. Dẫu vậy di chỉ Gò Ba Sao cũng như một góc của tảng băng chìm, vẫn đủ để thay đổi nhận thức cố chấp của người hiện đại về lịch sử.

Hiện tại, công tác khai quật khảo cổ học ở Gò Ba Sao vẫn đang tiếp diễn. Tin rằng trong tương lai không xa, chắc chắn sẽ phát hiện thêm nhiều chiếc chìa khóa mới, mở ra nhiều ổ khóa lịch sử hơn cho nhân loại, giúp con người nhìn nhận lại lịch sử, tín ngưỡng, và ý nghĩa của sinh mệnh của chính mình.

Cao Nghĩa, Epoch Times

(*) Ghi chú theo wikipedia:

Sơn hải kinh (tiếng Trung: 山海经) là một cuốn sách cổ của Trung Quốc tổng hợp về địa lý, thần thoại và các sinh vật huyền bí. Các phiên bản sớm nhất của tài liệu này có thể đã xuất hiện từ đầu thế kỷ thứ 4 TCN, nhưng hình thức hiện tại không thể đạt được trước thời đại nhà Hán. Phần lớn cuốn sách ghi lại những câu truyện ngụ ngôn về địa lý, văn hóa và thần thoại Trung Quốc trước thời đại nhà Tần. Cuốn sách được chia thành 18 phần, mô tả hơn 550 ngọn núi và 300 con sông.

Xem thêm: