Giáo sư Ehud Qimron là Trưởng khoa Vi trùng học và Miễn dịch học của Trường Đại học Tel Aviv và là một nhà nghiên cứu miễn dịch hàng đầu của Israel. Ông đã viết một bức thư ngỏ với lời lẽ đanh thép gửi Bộ Y tế Israel, trong đó tổng kết mạch lạc nhiều thất bại và thảm họa của các chính sách đại dịch dựa vào phong tỏa mà chính phủ Israel thực thi trong hai năm qua, đồng thời tóm gọn được những vấn đề chính liên quan đến COVID-19.

Viện Brown Stone đăng bức thư của Giáo sư Ehud Qimron (người ngồi giữa trong ảnh) gửi Bộ Y tế Israel.

Bức thư của giáo sư Ehud Qimron được đăng lần đầu tại trang tin của tổ chức Nghiên cứu Chính sách Thụy sĩ và lập tức thu hút sự chú ý của công luận. Bức thư ngỏ này cho tới nay đã được dịch ra hơn 16 thứ tiếng và tiếp cận được khoảng hơn 5 triệu người, theo Viện Brown Stone.

Trí thức Việt Nam chuyển ngữ sang tiếng Việt toàn văn bức thư của giáo sư Ehud Qimron từ bản tiếng Anh được đăng trên trang web của Viện Brown Stone.

Dưới đây là nội dung bức thư giáo sư Ehud Qimron gửi Bộ Y tế Israel:

—***—

Bộ Y tế, đã đến lúc phải thừa nhận thất bại

Cuối cùng, sự thật sẽ luôn được tiết lộ, và sự thật về các chính sách liên quan đến virus corona đang bắt đầu được phơi bày. Khi những khái niệm mang tính phá hủy lần lượt sụp đổ từng cái một, thì chẳng còn lại gì ngoài việc phải nói với những chuyên gia chịu trách nhiệm lãnh đạo công tác xử lý đại dịch này – chúng tôi đã nói với các ông như vậy rồi.

Sau hai năm, các ông cuối cùng đã nhận ra rằng không thể đánh bại một con virus liên quan đến hệ hô hấp và rằng bất kỳ nỗ lực nào như vậy tất phải thất bại. Các ông không thừa nhận điều đó, bởi vì các ông gần như không hề nhận bất kỳ lỗi lầm nào trong hai năm qua, nhưng nhìn lại sẽ thấy rõ rằng các ông đã đang thất bại thảm hại trong hầu hết những việc làm của mình, và ngay cả truyền thông hiện cũng đang vất vả đưa tin về sự tủi hổ của các ông.

Các ông đã từ chối thừa nhận rằng các bệnh truyền nhiễm đến theo từng đợt và tự chúng biến mất dần, bất chấp những quan sát qua nhiều năm và kiến thức khoa học. Các ông cứ khăng khăng gán mọi đợt dịch giảm đi nhờ hoàn toàn vào những hành động của các ông, và do đó thông qua tuyên truyền giả dối rằng “các ông đã chế ngự được bệnh dịch này”. Và rồi các ông lại bị đánh bại và liên tục bị đánh bại hết lần này đến lần khác.

Các ông đã từ chối thừa nhận rằng xét nghiệm đại trà là không hiệu quả, cho dù các kế hoạch dự phòng của chính các ông đã từng tuyên bố rõ ràng vậy (“Kế hoạch Chuẩn bị Hệ thống Y tế cho Đại dịch Cúm, 2007”, trang 26).

Các ông đã từ chối thừa nhận rằng khỏi bệnh sau nhiễm virus là có khả năng bảo vệ tốt hơn vắc-xin, bất chấp kiến thức và các quan sát trước đó cho thấy những người đã tiêm vắc-xin và không phải là người hồi phục sau nhiễm virus có thể bị nhiễm bệnh nhiều hơn những người khỏi bệnh sau nhiễm virus. Các ông đã từ chối thừa nhận rằng những người đã tiêm vắc-xin là dễ truyền nhiễm bất chấp nhiều quan sát. Dựa trên nhận định này, các ông đã hy vọng sẽ đạt được miễn dịch cộng đồng nhờ vắc-xin – và hy vọng đó của các ông cũng không thành.

Các ông đã khăng khăng phớt lờ thực tế rằng bệnh dịch này nguy hiểm đối với những nhóm nguy cơ và những người nhiều tuổi hơn cao gấp hàng chục lần so với những người trẻ không thuộc các nhóm nguy cơ, bất chấp kiến thức này đã được Trung Quốc phổ biến từ đầu năm 2020.

Các ông đã từ chối áp dụng “Tuyên bố Barrington” vốn được hơn 60.000 nhà khoa học và các chuyên gia y tế ký tên, hoặc những chương trình có tri thức thông dụng khác. Các ông lựa chọn chế nhạo, phỉ báng, xuyên tạc và làm mất uy tín của Tuyên bố Barrington và các chương trình thường thức khác. Thay vì sử dụng những chương trình và những con người đúng, các ông lại lựa chọn những chuyên gia vốn không được đào tạo về xử lý đại dịch (dùng các nhà vật lý làm các cố vấn trưởng của chính phủ, dùng các bác sĩ thú y và nhân viên truyền thông…).

Các ông đã không thiết lập một hệ thống hiệu quả để báo cáo các tác dụng phụ của vắc-xin và những báo cáo về tác dụng phụ này thậm chí đã bị xóa khỏi trang Facebook Bộ Y tế. Các bác sĩ tránh đề cập đến các tác dụng phụ của vắc-xin, vì sợ rằng các ông sẽ bức hại họ như các ông đã làm thế đối với một số đồng nghiệp của họ. Các ông đã phớt lờ những báo cáo về phụ nữ bị thay đổi chu kỳ kinh nguyệt sau khi tiêm vắc-xin. Các ông đã che giấu các dữ liệu đầu vào của những nghiên cứu khách quan và hợp thức (chẳng hạn như các ông đã xóa dữ liệu về các hành khách tại Cảng hàng không Ben Gurion). Thay vào đó, các ông lựa chọn kết hợp cùng các nhà điều hành cấp cao của hãng dược Pfizer đăng tải các bài viết không khách quan về hiệu quả và sự an toàn của các loại vắc-xin COVID-19.

Thiệt hại về niềm tin là không thể đảo ngược

Tuy nhiên, với thói kiêu ngạo của mình, các ông cũng đã đang phớt lờ thực tế rằng cuối cùng sự thật sẽ được tiết lộ. Và sự thật đã bắt đầu lộ diện. Sự thật là các ông đã khiến niềm tin của công chúng đặt vào các ông rớt xuống mức thấp chưa từng có, và các ông đã đang bào mòn vị thế uy quyền của mình. Sự thật là rằng các ông đã đang tiêu tốn vô ích hàng trăm nghìn tỷ shekel vào việc xuất bản các bài viết hù dọa, xét nghiệm không hiệu quả, phong tỏa mang tính phá hủy và làm gián đoạn đời sống thường nhật trong hai năm qua.

Các ông đã đang hủy hoại việc học hành của trẻ em và tương lai của chúng. Các ông đã khiến cho trẻ con cảm thấy tội lỗi, sợ hãi, hút thuốc, uống rượu, nghiện hút, bỏ học và gây gổ. Các hiệu trưởng trên khắp cả nước xác nhận hiện trạng đó. Các ông đã đang gây hại cho nhân quyền, sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sinh kế của người dân, cũng như nền kinh tế.

Các ông đã phỉ báng những đồng nghiệp không chịu khuất phục các ông, các ông đã khiến mọi người chống đối lẫn nhau, khiến xã hội chia rẽ và làm phân cực các cuộc thảo luận. Các ông không căn cứ vào bất kỳ cơ sở khoa học nào mà đã gắn nhãn những người lựa chọn không tiêm vắc-xin COVID-19 là kẻ thù của công chúng và là những người lây lan bệnh dịch. Theo cách chưa từng có tiền lệ, các ông thúc đẩy chính sách phân biệt đối xử hà khắc, thúc đẩy phủ nhận nhân quyền, thúc đẩy giải pháp lựa chọn về chọn lựa y tế của mọi người, kẻ cả trẻ em. Nhưng giải pháp lựa chọn đó lại thiếu mọi lý lẽ biện minh dịch tễ.

Khi các ông so sánh các chính sách mang tính phá hủy mà các ông đang theo đuổi với những chính sách ôn hòa của một số quốc gia khác, thì các ông có thể thấy rõ ràng rằng sự tàn phá mà các ông đã đang gây ra đã làm tăng thêm số nạn nhân vượt quá cả những người dễ bị tổn hại bởi virus corona. Nền kinh tế mà các ông đã phá hỏng, những người bị thất nghiệp do các ông gây ra, và những đứa trẻ mà sự nghiệp học hành của chúng đã bị các ông hủy đi – tất cả họ là nạn nhân tăng thêm duy chỉ vì những việc làm của chính các ông.

Hiện nay không hề có tình trạng khẩn cấp y tế, nhưng các ông đã tạo ra và thúc đẩy tình huống đó trong hai năm nay bởi vì ham muốn quyền lực, tiền tài và kiểm soát. Thứ khẩn cấp duy nhất hiện nay là việc các ông vẫn thiết lập các chính sách và giành những khoản ngân sách khổng lồ vào tuyên truyền và kỹ xảo tâm lý chứ không sử dụng chúng vào việc củng cố hệ thống chăm sóc y tế.

Tình trạng khẩn cấp này phải chấm dứt!

Giáo sư Ehud Qimron, Khoa Y, Đại học Tel Aviv

Xuân Thành chuyển ngữ

Xem thêm: