Sau chuyến thăm khảo sát đến Đài Loan Giám đốc An ninh Quốc gia Mỹ Guy Taylor đã công bố 3 bài phân tích tình hình ở eo biển Đài Loan, trong đó tập trung vào phân tích vấn đề của Mỹ về chính sách “một Trung Quốc” và chiến lược mơ hồ trước sức ép chưa từng có đối với cả hai bờ Thái Bình Dương.

(Ảnh minh họa: Maksym Kapliuk/Shutterstock)

Ông Taylor nhận thấy, việc Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thường xuyên đe dọa thôn tính Đài Loan và có thể dùng vũ lực quân sự khi cần đã tạo ra căng thẳng cao ở Đài Loan, đồng thời làm dấy lên tranh luận ở Washington về chính sách “mơ hồ chiến lược” mà lâu nay Mỹ áp dụng sẽ bảo vệ Đài Loan dân chủ như thế nào để không bị xâm lược.

Về việc Tổng thống Mỹ Biden trước đó phản ứng trước các cuộc tập trận quân sự gia tăng của ĐCSTQ gần Đài Loan, nói rằng quân đội Mỹ sẽ bảo vệ Đài Loan trong trường hợp xảy ra “cuộc tấn công chưa từng có tiền lệ”, một số người cho rằng tuyên bố đánh dấu kết thúc chính sách “mơ hồ chiến lược” của Mỹ. Liên quan động thái này, cả Bắc Kinh và Washington đều cáo buộc nhau đơn phương cố gắng thay đổi hiện trạng.

Tuy nhiên Nhà Trắng sau đó đã làm rõ rằng “chính sách của Mỹ không thay đổi”, khiến không ít người chỉ trích ông Biden chỉ đang khiến vấn đề thêm mơ hồ trong khi cần thể hiện rõ quan điểm, đặc biệt là trong bối cảnh Bắc Kinh đang không ngừng đe dọa.

Một cuộc tranh luận song song đang diễn ra ở Đài Loan, các quan chức thường thừa nhận riêng tư rằng họ muốn Chính phủ Đài Loan tích cực hơn trước cộng đồng quốc tế trong việc khẳng định Đài Loan hoàn toàn độc lập, nhưng đồng thời lo ngại động thái sẽ kích động Bắc Kinh dùng vũ lực. Hệ quả là gần 24 triệu người Đài Loan phải sống trong tình cảnh bấp bênh của trật tự quốc tế từ khi Đài Loan tách khỏi Đại Lục năm 1949.

Bài viết chỉ ra, một mặt thì Đài Loan hoạt động hiệu quả như một quốc gia độc lập có Chính phủ riêng được dân cử và có nền kinh tế thịnh vượng hàng đầu thế giới; mặt khác Đài Loan cũng chấp nhận nguyên trạng hàng thập kỷ mà ĐCSTQ tuyên bố quyền tài phán của họ trong bối cảnh hầu hết các nước trên thế giới bao gồm cả Mỹ về mặt kỹ thuật không công nhận Đài Loan là độc lập với Trung Quốc.

Tên chính thức của Đài Loan là “Trung Hoa Dân Quốc”, hầu hết người Đài Loan tin rằng ưu tiên hàng đầu là tránh xung đột với Bắc Kinh.

Người phát ngôn Lily Hsu của Bộ Ngoại giao Đài Loan ước tính, khoảng 6% người Đài Loan sẽ lập tức ủng hộ nền độc lập, nhưng khoảng 85% sẽ ủng hộ việc duy trì hiện trạng. Bà nói với các phóng viên quốc tế: “Chính phủ và người dân Đài Loan không cần khôi phục độc lập vì chúng tôi đã là một quốc gia độc lập. Chúng tôi có Chính phủ được bầu cử tự do, các nước khác cũng như các cơ quan Liên Hợp Quốc cần xem xét lại vấn đề này”.

Tăng cường đối đầu

Căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc leo thang cao đến mức nhạy cảm kể từ khi Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi thăm Đài Loan vào đầu tháng 8. Khi đó Bộ Ngoại giao ĐCSTQ nói rằng động thái của bà Pelosi “tác động nghiêm trọng đến nền tảng chính trị của quan hệ Trung – Mỹ”, “gửi tín hiệu sai lầm nghiêm trọng tới các lực lượng ly khai thúc đẩy ‘Đài Loan độc lập’”. Trước đó, lãnh đạo ĐCSTQ Tập Cận Bình đã trực tiếp kêu gọi Tổng thống Mỹ Biden hủy chuyến thăm của Pelosi và phái đoàn.

Chính quyền Tổng thống Biden cam kết thực hiện chính sách “một Trung Quốc”, theo đó Washington từ lâu đã thừa nhận quan điểm của ĐCSTQ rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc, nhưng thực tế là Mỹ vẫn duy trì quan hệ ngoại giao không chính thức và quan hệ quốc phòng thực chất với Đài Loan.

Đài Loan có quan hệ kinh tế chặt chẽ với Mỹ. Các công ty Mỹ có mối liên hệ chặt chẽ với Đài Loan là nơi có nhà sản xuất chip bán dẫn hàng đầu thế giới, không chỉ quan trọng trong hoạt động sản xuất dân dụng toàn cầu (từ điện thoại thông minh đến máy tính xách tay, tủ lạnh….), mà ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ cũng phụ thuộc vào Đài Loan.

Hồi tháng 5/2022, Chính phủ Mỹ đã công bố báo cáo, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của ngành công nghiệp bán dẫn Đài Loan. Cho dù từ chối trách nhiệm trong vấn đề nhà chức trách Mỹ “không ủng hộ Đài Loan độc lập”, nhưng họ “hy vọng chia rẽ giữa hai bờ eo biển được giải quyết hòa bình”. Ngoài ra, Washington tiếp tục “phản đối mọi đơn phương thay đổi đối hiện trạng”.

Có phân tích cho rằng những luận điệu như vậy là cơ sở cho chính sách “mơ hồ chiến lược” của Mỹ vốn bắt nguồn từ chính sách “một Trung Quốc” của Washington khác với nguyên tắc “một Trung Quốc” của ĐCSTQ.

Bắc Kinh và Washington đã không thể có được đồng thuận về vấn đề này kể từ chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Nixon tới Trung Quốc năm 1972 mở đường cho quan hệ ngoại giao chính thức Mỹ – Trung. Năm 1979, trong quá trình công nhận ngoại giao từ Đài Bắc đến Bắc Kinh, chính quyền Tổng thống Carter khi đó đã từ chối yêu cầu của ĐCSTQ đề nghị Mỹ công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Đài Loan.

Theo một phân tích năm 2017 của tổ chức tư vấn Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ, phía Mỹ đã không đồng ý khi ĐCSTQ thay đổi văn bản trong văn kiện ngoại giao tiếng Trung liên quan Đài Loan thành “công nhận” [Đài Loan thuộc Trung Quốc]. Khi đó Thứ trưởng Warren Christopher phát biểu trước phiên điều trần tại Thượng viện rằng phía Mỹ “xem văn bản tiếng Anh là văn bản có sức ràng buộc”.

Tiếp theo là việc vào năm 1979 thông qua “Đạo luật Quan hệ Đài Loan”, theo đó quy định Washington “sẽ cung cấp cho Đài Loan vũ khí phòng thủ và Mỹ sẽ bảo đảm chống lại bất kỳ biện pháp cưỡng bức nào hoặc bằng cách nào khác có thể gây nguy hiểm cho an ninh cũng như hệ thống kinh tế hoặc xã hội của người dân Đài Loan”.

Nhưng tính mơ hồ trong chính sách của Mỹ vẫn vậy vì luật không quy định rõ ràng rằng quân đội Mỹ sẽ can thiệp quân sự trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công vào Đài Loan.

Tổng thống Biden đang chịu áp lực phải làm rõ các chính sách của mình trong bối cảnh gia tăng lo ngại ĐCSTQ đang công khai chuẩn bị cho các cuộc tấn công như vậy đối với Đài Loan.

Tổng thống nói với CBS vào tháng trước, chính quyền của ông “có chính sách với Trung Quốc, còn Đài Loan có quan điểm riêng về nền độc lập của Đài Loan. Chúng tôi không thay đổi – chúng tôi không khuyến khích họ độc lập… Đó là quyết định của họ”.

Khi được hỏi cụ thể liệu quân đội Mỹ có bảo vệ đảo Đài Loan hay không, ông Biden trả lời: “Có, nếu thực tế xảy ra một cuộc tấn công chưa từng có”.

Ngay sau đó, các quan chức Nhà Trắng tái khẳng định, chính sách của Mỹ đối với Đài Loan không thay đổi.

Trong năm nay Tổng thống Biden đã ba lần bày tỏ rằng Mỹ sẽ hỗ trợ Đài Loan về mặt quân sự nếu Trung Quốc xâm lược đảo quốc này, trong khi Nhà Trắng liên tục phủ nhận cáo buộc rằng chính sách của Mỹ đối với Đài Loan đã thay đổi.

Cố ý mơ hồ?

Bài viết tiếp tục chỉ ra cách tiếp cận của chính quyền Biden đã bị chỉ trích vì làm cho các đồng minh và đối thủ không rõ về chính sách thực tế của Mỹ. Cựu Ngoại trưởng Mike Pompeo cáo buộc ông Biden đã đưa ra “phát ngôn mơ hồ” về chính sách của Washington. “Sự mơ hồ trong chính sách của Mỹ đến giờ thậm chí còn mơ hồ hơn”, ông Pompeo nói trong chuyến đi đến Đài Loan vào tháng 9.

Hồi tháng 7, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mark Esper phát biểu tại Đài Loan rằng chính sách “một Trung Quốc” của Mỹ đã lỗi thời.

Nhưng không phải ai cũng đồng ý với luận điểm đó.

Ông Andrew Scobell của Viện Nghiên cứu Hòa bình Mỹ (USIP) nhìn nhận, sự mơ hồ lâu nay của Washington về vấn đề Đài Loan về mặt chiến lược đã khiến ĐCSTQ không chắc chắn về những gì Mỹ sẽ làm. Ngược lại nếu rõ ràng chiến lược sẽ đưa Mỹ và ĐCSTQ đến gần hơn đối đầu quân sự. Ông nhận định, Washington nên thận trọng trong việc từ bỏ chính sách mơ hồ chiến lược này.

Ông nói: “Ông Nixon và ông Kissinger tỏ ra nhón gót về vấn đề này và cứ lấp lửng rằng, ‘Chúng tôi thừa nhận Trung Quốc (ĐCSTQ) có quan điểm rằng họ nghĩ chỉ có một Trung Quốc’, nhưng chúng tôi chưa bao giờ nói rằng phía Mỹ chúng tôi đồng ý.” Ông tiếp tục: “Lập luận của Trung Quốc là Mỹ đã luôn lừa dối và giả vờ đồng ý với quan điểm của Bắc Kinh, nhưng tôi nghĩ rằng quan điểm của Mỹ là chúng tôi thừa nhận lập trường của họ, điều đó phụ thuộc vào chính sách không thù địch của Trung Quốc đối với Đài Loan.”

Chính phủ Thái Anh Văn của Đài Loan đang theo dõi chặt chẽ cuộc tranh luận ở Mỹ, Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn thường nhấn mạnh Đài Loan là “quốc gia độc lập” và kêu gọi các nền dân chủ phương Tây ủng hộ điều đó, mặc dù bà cũng tránh thúc đẩy việc tuyên bố độc lập chính thức. Ngoại trưởng Đài Loan Joseph Wu (Ngô Chiêu Nhiếp) gần đây tiết lộ, có rất nhiều cuộc tranh luận ở Washington về sự rõ ràng hay mơ hồ chiến lược đối với Đài Loan, nhưng cả hai xu thế đều theo quan điểm ủng hộ Đài Loan, vì vậy cả hai bên đều được tán dương.

Nhưng người phát ngôn Lily Hsu của Bộ Ngoại giao Đài Loan và Chủ tịch Charles Lee của Liên minh Liên Hiệp Quốc – Đài Loan (TAIUNA) cho rằng Mỹ có thể làm được nhiều hơn thế, chẳng hạn như chính thức công nhận Đài Loan là một quốc gia và giúp Đài Loan gia nhập Liên Hợp Quốc.