Báo cáo mới công bố ngày 21/10 – “Tăng cường Khả năng Chống chịu khu vực Ven biển” do Ngân hàng Thế giới (World Bank) công bố, cảnh báo Việt Nam có thể mất hàng tỷ đô la tăng trưởng kinh tế trong các năm tới nếu không có những thay đổi kịp thời trong quản lý phòng ngừa rủi ro do thiên tai.

Một căn nhà sau khi nước rút, tại xã Sơn Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, ngày 22/10/2020. (Ảnh: CTV/Trí Thức VN)

Báo cáo do Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Thế giới, và Quỹ Toàn cầu về Giảm nhẹ và Phục hồi Thiên tai phối hợp thực hiện, được đưa ra khi các tỉnh miền Trung Việt Nam đang trải qua đợt mưa lũ lịch sử khiến ít nhất 135 người chết và mất tích tính đến sáng ngày 22/10.

Nghiên cứu chỉ ra rủi ro thiên nhiên, vốn đã rất nguy hiểm, đang trở nên ngày càng nặng nề do tốc độ đô thị hóa nhanh, phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu. Ngoài ra, chương trình quản lý rủi ro của Việt Nam dù có nhiều tiến bộ, nhưng những tồn tại chính đang làm gia tăng nguy cơ tổn thất, gồm thông tin về rủi ro rời rạc và thiếu, các quy định liên quan như quy hoạch không gian, quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn an toàn và bảo trì hệ thống cơ sở hạ tầng được thực thi kém hiệu quả. Ví dụ, 2/3 hệ thống đê biển của Việt Nam hiện không đáp ứng đủ các yêu cầu an toàn theo quy định.

Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.000 km. Khu vực ven biển với thiên nhiên trù phú đang mang lại sinh kế cho khoảng 47 triệu người dân, tương đương với một nửa dân số trên cả nước, song cũng là khu vực chịu nhiều tác động nặng nề từ các thảm họa thiên nhiên.

Ước tính 12 triệu người ở các tỉnh ven biển đang phải chịu ảnh hưởng từ nguy cơ của các trận bão lũ nặng nề và hơn 35% nhà ở hiện đang nằm ở các khu vực ven biển bị xói mòn.

Trung bình mỗi năm, Việt Nam mất tới 852 triệu USD – tương đương 0,5% GDP – và 316.000 việc làm trong các lĩnh vực kinh tế chủ chốt do bị ảnh hưởng bởi nguy cơ lũ lụt ven sông và ven biển.

Một số con số cụ thể về các khu vực kinh tế được đưa ra như sau:

  • Ngành nông nghiệp thiệt hại 1 tỷ USD
  • 1,5 triệu nông dân bị ảnh hưởng trực tiếp do lũ
  • 1,1 triệu tấn thủy sản bị ảnh hưởng hàng năm (tương đương 935 triệu USD kim ngạch xuất khẩu)
  • Ngành du lịch biển đóng góp 70% GDP ngành du lịch quốc gia nhưng khu vực ven biển thường phải đối mặt với lũ lụt, nước dâng do bão và sạt lở.

Chưa kể, lũ lụt còn khiến 26% các bệnh viện công và 11% các trường học trong khu vực bị ảnh hưởng. Hơn 1/3 lưới điện của Việt Nam ở những vùng rừng có nguy cơ bị hư hại do cây đổ vì bão.

Thông tin về rủi ro rời rạc và thiếu; các quy định liên quan như quy hoạch không gian, quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn an toàn và bảo trì hệ thống cơ sở hạ tầng được thực thi kém hiệu quả đang là những hạn chế chính của hệ thống quản trị rủi ro tại Việt Nam.

Đối với khu vực ĐBSCL, nổi bật nhất là tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn. Đợt hạn mặn kỷ lục xảy ra năm 2016 đã gây ra xâm nhập mặn nghiêm trọng trên 1,4 triệu ha đất canh tác, khiến 22% diện tích lúa ở nơi này không thể trồng trọt được (chiếm 12% sản lượng lúa quốc gia và 8% GDP nông nghiệp của đất nước), ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của khoảng 3 triệu nông dân trồng lúa.

Ngân hàng Thế giới dự báo nếu chậm triển khai các hoạt động thêm 10 năm thì nền kinh tế Việt Nam sẽ phải chịu thiệt hại thêm 4,3 tỷ USD Mỹ do thiên tai. Với kịch bản biến đổi khí hậu cao, đến năm 2030, biến đổi khí hậu có thể đẩy hơn 1,2 triệu người vào tình cảnh nghèo đói.

Một số giải pháp được bản báo cáo đề xuất như sau:

Thứ nhất, Việt Nam cần cải thiện các công cụ dữ liệu và ra quyết định bằng cách xây dựng cơ sở dữ liệu thiên tai có thể truy cập công khai và hệ thống quản lý tài sản đối với các cơ sở hạ tầng quan trọng.

Thứ hai, cần cân nhắc yếu tố rủi ro trong quy hoạch phân vùng và không gian dựa trên thông tin sẵn có tốt nhất.

Thứ ba, tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống cơ sở hạ tầng và dịch vụ công bằng cách nâng cấp các công trình này tại những khu vực dễ bị ảnh hưởng nhất và ít được bảo vệ, đồng thời cập nhật các tiêu chuẩn an toàn hiện có.

Thứ tư, tận dụng các giải pháp dựa trên tự nhiên bằng cách khai thác khả năng bảo vệ và đóng góp phát triển kinh tế của hệ sinh thái một cách có hệ thống.

Cuối cùng là nâng cao năng lực phòng ngừa và ứng phó với thiên tai bằng cách nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm, tăng cường năng lực ứng phó của địa phương, cải thiện mạng lưới an sinh xã hội và thực hiện phân bổ ngân sách rủi ro toàn diện.

Nguyễn Minh

Xem thêm: