Làng Kính Chủ, huyện Giáp Sơn (nay là thôn Dương Nham, xã Phạm Mệnh, Kinh Môn, Hải Dương) là nơi sơn thủy hữu tình, có núi Thạch Môn được xem là cột trụ trời, có sông Kinh Thầy gắn kiền với các sự tích trong dân gian, có động Kính Chủ nằm trong dãy núi Thạch Môn đươc xem là kỳ quan về cảnh đẹp hang động của cả nước. Làng Kính Chủ cũng tự hào khi trong lịch sử có gia đình họ Phạm sinh được 3 tiến sĩ và đều là danh thần trụ cột dưới thời nhà Trần.

Sông Kinh Thầy gắn kiền với các sự tích trong dân gian. (Ảnh từ tinhte.vn)
Động Kính Chủ. (Ảnh từ dulichhuongvietjsc.com)

Dưới thời vua Trần Nhân Tông ở làng Kính Chủ có gia đình 3 cha con họ Chúc đều hay chữ, hai người con là Chúc Cố và Chúc Kiên. Hai anh em cùng học với thầy Nguyễn Sĩ Cố.

Nhờ học giỏi, hai anh em cùng thi đậu Thái học sinh (tức tiến sĩ) và làm quan cho nhà Trần. Vua Trần Nhân Tông cho rằng họ Chúc không phải họ lớn nên đổi tên cho 2 anh em sang họ Phạm là Phạm Mại và Phạm Ngộ.

Phạm Mại, danh thần chuyên can gián

Phạm Mại sau làm Ngự sử Trung tán, đây là chức quan chuyên can gián Vua.

Lúc này trong Triều có Trần Quốc Chẩn vừa là chú ruột lại vừa là bố vợ của vua Minh Tông nên quyền hành rất lớn được phong là Huệ Vũ Vương.

Con gái của Quốc Chẩn là Hoàng hậu Lệ Thánh chưa sinh được con dù vua Minh Tông đã ở ngôi 15 năm rồi. Việc chọn Thái tử ngày càng trở nên cấp bách, trong Triều chia làm 2 phía: Một bên theo Trần Quốc Chẩn muốn chờ Hoàng hậu sinh Hoàng tử; một bên theo Văn Hiến Hầu và Trần Khắc Chung muốn lập ngay hoàng tử Vượng là con một quý phi khác.

Bấy giờ có tin hoàng hậu Lệ Thánh đã mang thai, Văn Hiến Hầu liền đưa 100 lạng vàng cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần Nhạc để nói rằng Quốc Chẩn làm phản.

Vua Trần Minh Tông tin lời liền cho người đến chùa Tư Phúc bắt Quốc Chẩn. Thái bảo Trần Khắc Chung lại nói thêm vào rằng “bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó”, Minh Tông liền bắt Quốc Chẩn phải tuyệt thực. Sau khi Quốc Chẩn mất, Triều đình còn bắt hơn 100 người liên quan, hầu hết đều kêu oan. Đây trở thành một vụ án nổi tiếng trong lịch sử

Đứng trước vụ án này, Phạm Mại tập hợp các trung thần điều tra tìm manh mối chứng cứ vụ án, quyết tìm ra sự thật.

Gia đình họ Phạm có 3 người đỗ tiến sĩ đều là danh thần thời nhà Trần
(Tranh minh họa: Họa sĩ Sỹ Hòa, Báo Bình Phước Online)

Đối mặt với thế lực Hoàng thân nhà Trần, Phạm Mại bị cách chức, nhưng ông vẫn không từ bỏ. Cuối cùng, Quốc Chẩn được minh oan, còn Phạm Mại được thăng làm Tham tri chính sự.

Vụ án này khiến vua Minh Tông day dứt ân hận mãi về sau. Đồng thời vua rất cảm phục Phạm Mại, làm bài thơ tặng ông, dịch nghĩa như sau:

Trên cung điện ngang tàng như cọp, như chim ưng
Làm trai như vậy mới xứng đáng là có công danh

Hồ Nguyên Trừng trong cuốn sách “Nam ông mộng lục” của mình cũng ca ngợi Phạm Mại là người cương trực thẳng thắn, bênh vực người yếu thế.

Phạm Ngộ làm quan cẩn trọng

Phạm Ngộ giữ chức Tri thẩm Hình viện, ông cùng Nguyễn Trung Ngạn đi sứ nhà Minh, tài đối đáp cùng phong cách đĩnh đạc của ông đã giúp cuộc bang giao 2 nước tốt đẹp.

Phạm Ngộ làm quan thanh liêm lại cẩn thận, nên lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Tri chính sự, Đồng tri, Thượng thư, Tả ty lang trung. Ông trở thành vị quan lớn có ảnh hưởng dưới thời vua Minh Tông.

Phạm Sư Mạnh, danh sĩ triều Trần

Phạm Ngộ có người con trai là Phạm Độ. Được sinh ra trong gia đình có truyền thống khoa bảng, Phạm Độ có đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp từ cha và bác mình, là học trò xuất sắc của thầy Chu Văn An. Nhiều nơi như núi Phượng Hoàng, núi Yên Phụ, động Kính Chủ đều từng là nơi Phạm Độ đọc sách.

Phạm Độ thi đỗ Thái học sinh năm 1323 dưới thời vua Trần Minh Tông. Vua thấy ông có tên “Độ” phạm húy với Trần Thủ Độ nên đổi tên ông thành Phạm Sư Mạnh.

Gần 50 năm làm quan dưới ba triều vua Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông, ông đã đảm nhiệm nhiều trọng trách khác nhau. Năm 1358, ông giữ chức Nhập nội hành khiển. Năm 1359, ông giữ chức Hành khiển tả ty lang trung. Năm 1368, ông thăng chức Tri khu mật viện sự.

Thời vua Dụ Tông, nhà Nguyên sai sứ là Vương Sĩ Hành đến chất vấn về cột đồng Mã Viện năm xưa, vua phải nhờ ông đến đối đáp. Nhờ thông kinh sử, lại giỏi đối đáp nên ông biện đáp thành công khiến sứ nhà Nguyên không còn sách nhiễu được nữa.

Năm 1362, khi làm Tri Khu mật viện, biên giới phái bắc bất ổn, Phạm Sư Mạnh duyệt quân 5 lộ lo bảo vệ đất nước và vùng biên giới.

Phạm Sư Mạnh phải đi nhiều nơi, nên thơ của ông cũng trải dài khắp đất nước. Ông để lại nhiều áng thơ văn nhưng phần lớn đã bị thất truyền. Núi non vẫn lưu lại những vần thơ của ông, như bài thơ “Thạch Môn” được khắc vào vách đá ở động Kính Chủ, bài ký “Vân Lỗi sơn Sùng Khánh tự” khắc vào bia ở chùa Sùng Hưng tên núi Vân Lỗi (Quảng Ninh).

Trần Hưng

Xem thêm:

Mời xem video: