Báo cáo “Đánh giá về tình hình di cư của người giàu toàn cầu năm 2019” do AfrAsia Bank và New World Wealth công bố cho thấy: Trung Quốc là nước có số người giàu di cư ra nước ngoài cao nhất trong năm 2019, gấp đôi số người rời khỏi Nga, đứng ở vị trí thứ hai. Tổng cộng vào năm 2017 có 10.000 người giàu Trung Quốc nhập cư vào các nước khác, và đến năm 2018 có 15.000 người giàu nhập cư, tăng 50%. Năm 2018, các doanh nhân từ Trung Quốc đại lục có các công ty được niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán Hồng Kông được cho là đã lập quỹ tín thác ở nước ngoài để chuyển 28,5 tỷ USD tài sản ra nước ngoài. Không thể phụ nhận thực tế rằng giới doanh nhân Trung Quốc có một ước muốn trốn chạy hết sức mạnh mẽ ra nước ngoài. Điều này có liên quan đến bản tính lưu manh của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).

Nhìn lại lịch sử: Vì sao giới doanh nhân Trung Quốc muốn trốn chạy?
Phố Tàu ở London (Ảnh: Aurelien Guichard/Wikipedia, CC BY-SA 2.0)

Trong lịch sử, ĐCSTQ đã từng coi việc sở hữu nhiều của cải là một tội ác, rao giảng rằng tịch thu của cải là điều đúng đắn nên làm và hành vi bạo lực là chính đáng. Sau khi tiêu diệt địa chủ và các nhà tư bản, ĐCSTQ lại nhắm đến nông dân, thương gia và lao động lành nghề để chiếm đoạt tiền của họ.

Năm 1956, ĐCSTQ đã biến toàn bộ quyền sở hữu tư nhân thành “liên doanh nhà nước-tư nhân”, và chỉ trả lãi suất 5% mỗi năm cho các chủ sở hữu ban đầu, bất kể công ty kiếm được bao nhiêu lợi nhuận. Sau đó, tháng 9 năm 1966, nó không trả lãi nữa. Đến lúc đó, không còn loại hình sở hữu tư nhân nữa, ĐCSTQ đã tiếp quản mọi công ty. Nhưng không lâu sau, nền kinh tế dựa trên các công ty quốc doanh của ĐCSTQ đã cho thấy sự thất bại thảm hại.

Hòng duy trì quyền lực, vào cuối những năm 1970, ĐCSTQ buộc phải “mở cửa và cải cách”, đưa khu vực kinh tế tư nhân trở lại. Tất nhiên, việc biến “tư nhân” thành “nhà nước” đã khiến giới nắm quyền được lợi, mà việc biến “nhà nước” thành “tư nhân” lại càng khiến một số người danh chính ngôn thuận mà thu hết lợi về tay của mình.

Ngày nay, các doanh nghiệp tư nhân là trụ cột của nền kinh tế Trung Quốc. Các công ty tư nhân đóng góp 2/3 GDP của Trung Quốc, 300 triệu việc làm và hơn 50% thuế. Các doanh nghiệp nhà nước mặc dù có tài sản và thu nhập lớn nhưng cho lợi nhuận thấp.

Tuy nhiên, ĐCSTQ không coi trọng các doanh nghiệp tư nhân. Thay vào đó, nó vẫn luôn tìm cách tiếp quản tài sản tư nhân khi có thể.

Nếu nhìn vào bộ Luật Hình sự Trung Quốc, thì nó quy định chi tiết hơn 450 tội danh, trong đó, hơn 110 tội danh là tội phạm kinh tế. ĐCSTQ có thể dễ dàng tiêu diệt một chủ doanh nghiệp tư nhân mà chẳng mất công gì khi buộc tội anh ta là “tội phạm kinh tế”.

Một cách khác mà ĐCSTQ lấn sân sang khu vực tư nhân là buộc các công ty tư nhân thành lập các chi bộ Đảng. Hội nghị Xây dựng Đảng ở các Công ty Internet tại Bắc Kinh ngày 25 tháng 8 năm 2017 đã tiết lộ rằng 34 công ty Internet, trong đó có Baidu và Sina, đã thành lập chi bộ Đảng ở các công ty.

ĐCSTQ cũng thiết kế một loại cổ phiếu đặc biệt có tên là “Cổ phiếu Quản lý Đặc biệt” để ĐCSTQ có thể sở hữu một tỷ lệ nhỏ cổ phiếu nhưng vẫn có quyền phủ quyết đối với các công việc của công ty, từ đó sử dụng ảnh hưởng của nó đối với các quyết định của công ty.

Trong một hội nghị gần đây với các chủ doanh nghiệp tư nhân, Tập Cận Bình, lãnh đạo ĐCSTQ, đã khuyên các doanh nhân nên học hỏi từ các hình mẫu “doanh nhân yêu nước” thời xưa, như ông Lô Tác Phu, Vương Quang Anh và Vinh Nghị Nhân, những người đã nghe theo Đảng và chia sẻ quyền sở hữu công ty của họ với chính phủ.

Tuy nhiên, câu chuyện của ông Lô Tác Phu lại cho thấy điều hoàn toàn ngược lại. Đây là câu chuyện về một doanh nhân đã bị ĐCSTQ lừa dối, sau đó bị tiêu diệt như thế nào.

Ông Lô Tác Phu.

Từ những năm 1920 đến những năm 1940, Lô Tác Phu là ông vua hàng hải của Trung Quốc. Năm 1925, ông thành lập Tập đoàn Công nghiệp Dân Sinh và thống trị hoạt động kinh doanh vận tải đường thủy trên sông Dương Tử.

Năm 1938, ông Lô đã tổ chức “Cuộc di tản Dunkirk của Trung Quốc”. Theo đó, khi quân đội Nhật Bản xâm lược Trung Quốc và đang tiến đến thành phố Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc, công ty của ông đã vận chuyển 1,5 triệu người và hơn 1 triệu tấn vật liệu từ thành phố Nghi Xương xuôi sông Dương Tử đến Trùng Khánh. Sự rút lui này đã cứu các ngành công nghiệp chính của Trung Quốc trong trận chiến của Trung Quốc chống Nhật Bản vào Thế chiến thứ hai.

Ông Lô đã được chính phủ ca ngợi là anh hùng dân tộc. Đồng thời, cuộc chiến đã khiến công ty của ông thiệt hại 16 tàu và 116 sinh mạng, cùng 61 nhân viên bị tàn phế.

Sau Thế Chiến II, Trung Quốc diễn ra nội chiến. ĐCSTQ giao tranh với Quốc Dân Đảng và tiếp quản đại lục vào năm 1949. Ông Lô, lúc đó đang chỉ huy các con tàu của mình ra khỏi Hồng Kông, có bốn lựa chọn: Đi với ĐCSTQ, đi cùng Quốc Dân Đảng sang Đài Loan, sang Mỹ để viết hồi ký, hoặc ở lại Hồng Kông và tiếp tục điều hành công việc kinh doanh vận tải biển của mình.

Ông Lô đã chọn đi với ĐCSTQ và sang Bắc Kinh. Ngày 10 tháng 6 năm 1950, ông cho tàu đi sang phía bờ biển của đại lục. Ban đầu, ĐCSTQ còn đối xử tốt với ông: Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã gặp ông. ĐCSTQ đã phong ông là thành viên của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc toàn quốc, và sau khi ông trở về Trùng Khánh, ĐCSTQ đã bổ nhiệm ông làm ủy viên của Ủy ban Chính trị và Quân sự Khu vực Tây Nam.

Tuy nhiên, ông Lô đã mất quyền kiểm soát công ty của mình. ĐCSTQ đã “kìm kẹp” công việc kinh doanh của ông bằng cách kiểm soát nguyên liệu, vốn và các kênh bán hàng. Công ty của ông phải gửi tiền trong các ngân hàng quốc doanh và không được phép vay từ các ngân hàng hay tổ chức tư nhân.

Khi công ty của ông cạn tiền, ông Lô không còn lựa chọn nào khác, đành phải đồng ý “liên doanh nhà nước-tư nhân” để vay vốn từ các ngân hàng quốc doanh. Sau đó, ông đã bị loại bỏ dần dần.

Ngay cả trước khi chính phủ nắm quyền sở hữu chung, các đại diện của Đảng đã bắt đầu đưa ra các quyết định về nhân viên của công ty Dân Sinh, bao gồm bắt giữ, cách chức và chấm dứt hợp đồng. Ông Lô chỉ có thể đứng nhìn những nhân viên bậc cao và bậc trung của mình, những người đã cùng ông tạo nên kỳ tích Dân Sinh năm xưa, bị tấn công hoặc thanh trừng.

Tháng 1 năm 1952, ĐCSTQ đã phát động một phong trào chính trị nhắm vào các nhà tư bản trong ngành công nghiệp và kinh doanh. Ngày 8 tháng 2, đại diện của Đảng tại công ty Dân Sinh tuyên bố rằng ông Lô đã cố tình “làm hỏng” anh ta bằng cách đưa anh ta đi nhà hàng và rạp hát. Trợ lý của ông Lô xác nhận rằng ông Lô đã trả tiền ăn tối, xem Kinh kịch và cắt tóc cho người đại diện Đảng. Tuy nhiên, anh ta đã không đề cập đến việc ông Lô dùng tiền riêng của mình để trả cho những thứ đó.

Đêm đó, ông Lô đã uống một liều thuốc ngủ tự tử. Ông để lại một bức thư cho vợ, bảo bà giao hết tài sản của ông cho nhà nước. Cuối cùng, ông cũng hiểu rằng ĐCSTQ chỉ mơ chiếm đoạt tài sản kinh doanh của ông bằng bất cứ giá nào và ông phải từ bỏ tài sản để cứu mạng vợ con mình.

Có rất nhiều ví dụ như ông Lô. Từ ngày 25 tháng 1 đến ngày 1 tháng 4 năm 1952, có ít nhất 876 người đã tự sát ở Thượng Hải. Có nguồn tin cho biết, Trần Nghị, khi đó là thị trưởng Thượng Hải, ngày nào cũng hỏi phụ tá hôm nay có bao nhiêu “lính dù” hạ cánh, ám chỉ những người tự sát bằng cách nhảy lầu từ các tòa nhà cao tầng.

Ngày nay, vì ĐCSTQ kiểm soát các nguồn tài nguyên của quốc gia, nên khu vực kinh tế tư nhân ở Trung Quốc luôn hoạt động dưới ân huệ của Đảng. Không có gì lạ khi giới doanh nhân Trung Quốc luôn mang tâm lý làm giàu và tháo chạy. Trong thương trường, họ tích cực đấu tranh giành giật, nhưng sâu trong nội tâm, doanh nhân Trung Quốc thừa hiểu rằng: bản tính lưu manh của Đảng đã buộc họ phải trở thành những tay mafia giàu có.

Đăng lại có chỉnh sửa từ Minghui.org
Lập Ngân

Xem thêm: