Với tổng nợ công khoảng hơn 3,7 triệu tỷ đồng, Chính phủ Việt Nam cho biết nợ công vẫn ở ngưỡng an toàn khi tương đương 43,7% GDP, thấp hơn nhiều mức trần dưới 60% GDP Quốc hội cho phép.

Tuyến đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông có tổng mức đầu tư sau điều chỉnh là 18.002 tỷ đồng (868,04 triệu USD), gồm vốn vay ODA của Trung Quốc là 13.867 tỷ đồng (669,62 triệu USD) và vốn đối ứng 4.134 tỷ đồng (198,43 triệu USD), sau 10 năm khởi công vẫn chưa hoàn thành. (Ảnh minh họa: Huy Hùng/hanoimoi.com.vn)

Truyền thông trong nước cho hay tại báo cáo về tình hình nợ công năm 2021 và dự kiến năm 2022 gửi các Đại biểu Quốc hội, Chính phủ công bố dự kiến năm 2021, nợ công khoảng hơn 3,7 triệu tỷ đồng, bằng 43,7% GDP. Trong đó, nợ Chính phủ khoảng 3,35 triệu tỷ đồng, bằng 39,5% GDP. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân sách Nhà nước (NSNN) khoảng 24,8% và nợ nước ngoài quốc gia gần 8,8% GDP.

Dự kiến trong cả năm 2021, Chính phủ sẽ vay gần 514.300 tỷ đồng, bằng 82,4% so với kế hoạch; trong đó chủ yếu vay trong nước với khoảng 463.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 87,8% tổng huy động của Chính phủ, còn lại là từ vốn vay ODA, ưu đãi.

Trong 9 tháng đầu năm, Chính phủ đã vay được 298.758 tỷ đồng, trong đó có 7.253 tỷ đồng vay ODA, ưu đãi nước ngoài cho vay lại; còn lại là vay đưa vào cân đối ngân sách trung ương.

Tổng mức trả nợ trong năm 2021 dự kiến khoảng 365.932 tỷ đồng (92,8% kế hoạch), trong đó khoảng 338.415 tỷ đồng là trả nợ trực tiếp (92,4% kế hoạch), trả nợ nước ngoài của các dự án cho vay lại là 27.517 tỷ đồng (97,3% kế hoạch).

Trong 9 tháng đầu năm 2021, tổng trả nợ của Chính phủ là hơn 289.300 tỷ đồng, trong đó trả nợ trực tiếp khoảng 270.793 tỷ đồng, trả nợ cho vay lại khoảng 18.534 tỷ đồng.

Tự đánh giá, Chính phủ cho hay: “Việc thực hiện nghĩa vụ các khoản trả gốc, lãi của Chính phủ đầy đủ, đúng hạn theo cam kết, dự kiến không quá 25% thu NSNN theo mức trần Quốc hội cho phép”.

Song, Chính phủ lưu ý trường hợp GDP năm 2021 không đạt mức dự báo sẽ có tác động đến bội chi ngân sách nhà nước và các chỉ tiêu an toàn nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia trong năm 2021.

Năm 2022 tiếp tục vay hơn 571 nghìn tỷ đồng

Theo báo cáo, tổng mức dự kiến huy động vốn ODA, vay ưu đãi giai đoạn 2021-2025 là lớn, gấp 1,6 lần số huy động trong giai đoạn 2016-2020; điều kiện huy động vốn ngày càng khó khăn. Sau khi Việt Nam đã tốt nghiệp nguồn vay ODA của WB và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), các nhà tài trợ có những thay đổi trong chính sách cho vay so với giai đoạn trước.

Năm 2022, Chính phủ dự kiến vay 571.014 tỷ đồng, tăng 56.714 tỷ đồng so với mức dự kiến vay trong năm 2021. Trong đó, vay bù đắp bội chi ngân sách Trung ương 347.900 tỷ đồng; vay để trả nợ gốc của ngân sách trung ương 196.149 tỷ đồng; vay về cho vay lại 26.965 tỷ đồng.

Trong năm 2022, Việt Nam dự kiến huy động tới 502.926 tỷ đồng trong nước thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm trở lên; và dư kiến vay nước ngoài khoảng 68.088 tỷ đồng từ các thỏa thuận vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài đã ký kết.

Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ năm 2022 khoảng gần 300.000 tỷ đồng, trong đó trả nợ gốc khoảng 196.149 tỷ đồng và trả nợ lãi khoảng 103.668 tỷ đồng, bằng khoảng 21,2% so với thu ngân sách nhà nước.

Nghĩa vụ trả nợ vay về cho vay lại khoảng 36.370 tỷ đồng, trong đó trả gốc khoảng 27.208 tỷ đồng, trả lãi khoảng 9.162 tỷ đồng.

Hiện tại, Chính phủ dự kiến trong năm 2022 sẽ không bảo lãnh mới cho các chương trình, dự án để vay vốn trong nước, nước ngoài.

Theo Tổng cục Hải Quan Việt Nam, mức thâm hụt xuất nhập khẩu trong 9 tháng đầu năm 2021 là 2,13 tỷ USD.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng 9/2021 có tổng trị giá xuất nhập khẩu ước đạt 38,15 tỷ USD, giảm 0,7% so với tháng trước. Trong đó, xuất khẩu ước 20 tỷ USD, giảm 0,1% so với tháng trước; nhập khẩu là 18,15 tỷ USD, giảm 1,5%.

Trong cả 9 tháng, khu vực FDI có trị giá xuất nhập khẩu ước đạt 33,58 tỷ USD, chiếm 69% tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước và tăng 27,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tổng trị giá xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp này ước đạt 176,65 tỷ USD, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm 2020 và trị giá nhập khẩu ước 159 tỷ USD, tăng 33,6%.

Các chỉ số trên có mức tăng chậm so với số liệu tương ứng trong 6 tháng đầu năm 2021, khi khu vực FDI có trị giá xuất nhập khẩu ước đạt 220,16 tỷ USD, chiếm 69% tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước và tăng 36,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tổng trị giá xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp này ước đạt 116,65 tỷ USD, tăng 34,2% so với cùng kỳ năm 2020 và trị giá nhập khẩu ước 103,52 tỷ USD, tăng 40%.

Nguyễn Minh

Xem thêm:

Tổng thầu Trung Quốc ‘từ chối hợp tác’ để hoàn thiện đường sắt Cát Linh-Hà Đông