Ngày nay với rất nhiều người, cuộc cách mạng Pháp thường được nhắc đến như là một biểu tượng của tự do, với những khẩu hiệu nổi tiếng như “liberté, égalité, fraternité” (tự do, bình đẳng, bác ái), điều này xuất hiện cả trong giới sử học dòng chính vì cách nhìn tả hóa. Ở các quốc gia cộng sản, công xã Paris tiếp bước cuộc cách mạng Pháp cũng được nhắc đến như một hình mẫu của cách mạng vô sản. Tuy nhiên cả hai cuộc cách mạng này trên thực chất chất chứa đầy điên cuồng, thù hận và máu tanh, bản thân chúng được ý thức hệ cộng sản lấy làm hình mẫu, nhưng chúng không xứng trở thành một hình mẫu của thế giới, của lịch sử, lại càng không xứng trở thành biểu tượng của cái gọi là sự tự do.

Cách mạng Pháp và mầm mống khủng bố

Cách mạng Pháp năm 1789 có ảnh hưởng rất lớn và rộng khắp. Nó không chỉ lật đổ chế độ quân chủ, đảo lộn trật tự xã hội truyền thống, mà còn khởi đầu một lớp quần chúng bạo động. Như Engels nói: “Cách mạng hiển nhiên là hình thức độc tài nhất; nó là hành động của nhóm người này cưỡng chế nhóm người khác tiếp thu ý chí của mình bằng súng, lưỡi lê, đại bác, tức là phương thức độc tài, nếu có; và nếu như đảng chiến thắng không muốn mất đi thành quả đấu tranh thì tất yếu phải duy trì quy tắc này bằng cách dùng vũ khí của nó mà tạo ra sự sợ hãi của kẻ phản kháng.” [1]

Điều cần nói ở đây là người ta chỉ chú ý đến việc cách mạng Pháp lật đổ chế độ quân chủ, mà quên mất hậu quả nó để lại. Ngay sau cách mạng Pháp, Triều đại Khủng bố (Reign of Terror) của phái cầm quyền Jacobin làm mưa làm gió. Lãnh tụ của phái Jacobin là Maximilien Robespierre, không chỉ đưa Vua Louis XVI lên đoạn đầu đài, mà còn hành quyết 70.000 người, trong đó đại đa số là hoàn toàn vô tội. Người đời sau viết trên bia mộ của Robespierre:

“Người nào đi qua đây, hãy cầu nguyện
Đừng có xót thương vì ta đã chết;
Vì nếu ta còn sống đến ngày này,
Thì ngươi sẽ phải thế chỗ của ta!” [2]

Ba chính sách khủng bố mà Phái Jacobin thực thi trong Cách mạng Pháp đều rất giống với chính sách chuyên chế của đảng cộng sản sau này, đó là khủng bố chính trị, khủng bố kinh tế, và khủng bố tôn giáo.

Sự thật về cách mạng Pháp và công xã Paris: Thù hận, tanh máu, tàn độc
Tranh biếm của George Cruikshank về thời kỳ Khủng bố dưới sự thống trị của Maximilien Robespierre và phái Jacobin. (Tranh:
George Cruikshank/Wikipedia, Public Domain)

Các phần tử cách mạng Pháp thời đó đã thành lập Tòa án Cách mạng và dựng lên đoạn đầu đài ở Paris và các nơi. Các ủy ban cách mạng quyết định tù nhân nào là có tội hay không, còn đặc phái viên của Công hội Quốc dân nắm quyền hành đối với các tiểu ban quân sự và hành chính. Những kẻ thân không manh áo, hay giai cấp vô sản, giữ địa vị giai cấp cách mạng cao nhất. Điều này rõ ràng đã trở thành hình mẫu cho việc sát hại nạn nhân chính trị dưới thời Lenin và Stalin.

Một ví dụ tiêu biểu là Pháp lệnh Tháng Đồng cỏ (tháng thứ 9 trong lịch cách mạng Pháp) số 22, có hiệu lực vào ngày 10/6/1794. Theo Pháp lệnh này, chế độ dự thẩm và biện hộ bị xóa bỏ, tất cả các biện pháp trừng phạt đều quy về tử hình; nếu thiếu bằng chứng thì có thể lấy tin đồn, suy luận, và quan điểm cá nhân để phán quyết. Việc ban hành Pháp lệnh Tháng Đồng cỏ này khiến khủng bố mở rộng nghiêm trọng. Theo thống kê, trong toàn thời kỳ khủng bố, ước chừng có khoảng 300.000 đến 500.000 người bị coi là kẻ tình nghi và bị tù giam. [3]

Tương tự, khủng bố kinh tế của phái Jacobin cũng giống như chính sách của chủ nghĩa cộng sản thời chiến mà Lenin cho thực thi ở Nga. Ví dụ, một pháp lệnh thông qua ngày 26/7/1793 nghiêm cấm đầu cơ tích trữ quy định: “Hễ là người đầu cơ hàng hóa hoặc các vật dụng nhu yếu phẩm hàng ngày, làm tổn hại chất lượng hàng hóa, đem giấu đi mà từ chối bán ra… thì đều quy về tội hình sự. Người chống lại pháp lệnh này, ngoài việc bị tịch thu sản phẩm ra, còn bị xử tử hình.” [4]

Đặc trưng của khủng bố tôn giáo là tiêu diệt Thiên Chúa giáo, vốn là một trong những bất lợi lớn nhất cho các phần tử cách mạng Pháp. Trong Triều đại Khủng bố, Robespierre, họa sỹ Jacques-Louis David và những người theo họ đã sáng lập một kiểu chủ nghĩa vô thần dựa trên phong trào Khai sáng, xưng là “Giáo phái Lý tính” nhằm thay thế Thiên Chúa giáo. [5]

Ngày 5/10/1793, Công hội Quốc dân bãi bỏ lịch Cơ Đốc, đặt ra lịch Cộng hòa. Ngày 10/11, Nhà thờ Đức Bà Paris bị đổi tên thành Đền Lý tính, và một nữ diễn viên đóng vai “Nữ Thần Lý tính” cho quần chúng bái lạy. “Giáo phái Lý tính” dựa trên thuyết vô thần nhanh chóng được cưỡng chế triển khai ở Paris. Chỉ trong một tuần, tại Paris, ngoài ba giáo đường Cơ Đốc giáo còn hoạt động ra, tất cả các giáo đường còn lại đều bị đóng. Vận động khủng bố tôn giáo nhanh chóng lan ra toàn quốc, một lượng lớn các giáo sỹ bị bắt giữ, một số bị xử tử. [6]

Đại Cách mạng Pháp không chỉ cung cấp kinh nghiệm cho nhà nước Xô-viết mà Lenin kiến lập sau này, về mặt tư tưởng và sự hình thành của chủ nghĩa Marx cũng có mối liên hệ nội tại.

Francois Noёl Babeuf, một người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng, từng trực tiếp trải qua Cách mạng Pháp, đã đề xuất “Tiêu diệt chế độ tư hữu”. Marx tán dương Babeuf là nhà cộng sản đầu tiên.

Trong thế kỷ 19, nước Pháp chịu ảnh hưởng sâu nặng của trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Dưới ảnh hưởng của tư tưởng Babeuf, một nhóm bí mật “Liên minh những kẻ lưu manh” đã nhanh chóng khởi lên ở Paris. Thợ may Wilhelm Weitling của Đức đã gia nhập nhóm này sau khi sang Pháp năm 1835. Dưới sự lãnh đạo của ông ta, “Liên minh những kẻ lưu manh” đã đổi tên thành “Liên minh những người chính nghĩa”.

Tại cuộc họp thứ nhất vào tháng 6/1847, “Liên minh những người chính nghĩa” và “Ban Liên lạc Cộng sản” do Marx và Engels lập ra trước đó một năm đã mở cuộc họp chung và sáp nhập thành một, mang tên “Liên minh Cộng sản”. Tháng 2/1848, Marx và Engels đã công bố văn kiện căn bản của cuộc vận động cộng sản quốc tế: “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”.

Nói một cách ngắn gọn, xuất phát điểm của Đảng Cộng sản là “Liên minh những kẻ lưu manh”.

Cách mạng Pháp chỉ là điểm khởi đầu đưa châu Âu vào vòng hỗn loạn xã hội dai dẳng: hết cuộc cách mạng này đến khởi nghĩa kia nổ ra liên miên khắp nơi, từ cuối thời Napoleon, ảnh hưởng đến Tây Ban Nha, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Đức, nhiều vùng của Ý, Bỉ, Ba Lan đều bị cuốn vào trào lưu này. Đến năm 1848, cách mạng và chiến tranh lan ra khắp châu Âu. Sự hỗn loạn này đã trở thành môi trường tối ưu để chủ nghĩa cộng sản được truyền bá nhanh chóng.

Năm 1864, Marx và những người khác đã lập ra Liên hiệp Công nhân Quốc tế, còn gọi là Quốc tế Thứ nhất, tôn Marx làm lãnh tụ tinh thần của phong trào công nhân cộng sản.

Là lãnh đạo có tầm ảnh hưởng của Quốc tế Thứ nhất, Marx một mặt ý đồ lập ra một nhóm hạch tâm gồm những phần tử cách mạng có kỷ luật nghiêm ngặt, có thể vận động công nhân nổi dậy. Mặt khác, ông ta tìm lý do khai trừ những người bất đồng ý kiến ra khỏi tổ chức này. Mikhail Bakunin, là người Nga đầu tiên có hứng thú với cách mạng, và còn cuồng nhiệt tuyên truyền chủ nghĩa Marx, nhưng do năng lực lãnh đạo của ông ta hấp dẫn rất nhiều thành viên trong Quốc tế Thứ nhất, nên bị Marx buộc tội là gián điệp cho Sa Hoàng, và khai trừ khỏi Quốc tế Thứ nhất. [7]

Năm 1871, chi bộ Pháp của Quốc tế Thứ nhất đã phát động cuộc cách mạng cộng sản đầu tiên: Công xã Paris.

Công xã Paris và “lũ côn đồ tàn độc”

Công xã Paris ra đời sau khi Pháp thất bại trong Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870. Mặc dù Hoàng đế Napoleon III của Pháp đã tuyên bố đầu hàng nhưng quân Phổ vẫn vây khốn Paris. Người Phổ sau đó nhanh chóng rút đi, nhưng nỗi nhục đầu hàng và những bất mãn đã tích lũy từ lâu của công nhân Pháp đối với chính phủ đã khiến cho cuộc nổi dậy nổ ra ở Paris. Cộng hòa Thứ ba mới thành lập của Pháp rút lui về Versailles, để thủ đô rơi vào tình trạng không người cầm quyền.

Tháng 3/1871, Công xã Paris nổ ra với cuộc nổi loạn của đám lưu manh, du côn vũ trang, dưới sự lãnh đạo của những người xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, chủ nghĩa vô chính phủ và đủ loại phần tử cấp tiến. Có lý luận của chủ nghĩa Marx nâng đỡ, có chi bộ Pháp của Quốc tế Thứ nhất trực tiếp tham dự, họ vận động những người vô sản tiến hành cách mạng xã hội nhằm hủy hoại văn hóa truyền thống và cải biến chế độ chính trị kinh tế của xã hội.

Sau cuộc thảm sát và phá hoại trên diện rộng này, một lượng lớn văn vật, tượng đài, và tác phẩm nghệ thuật kiệt xuất ở Paris đã bị phá hủy. Một công nhân từng nhạo báng thế này: “Tượng đài, nhà hát, quán cà phê, phòng hòa nhạc đó thì có gì tốt với tôi chứ? Tôi làm gì có tiền mà đến những chỗ đó.” [8]

Một nhân chứng thời đó cho biết: “Thật cay đắng, xót xa, và tàn nhẫn; nó [Công xã Paris] đúng là di sản đau lòng của cuộc Cách mạng máu tanh năm 1789.”

Một nhân chứng khác gọi Công xã Paris là “cách mạng máu và bạo lực”“tội ác lớn nhất mà thế giới từng chứng kiến”. Những kẻ tham gia cuộc cách mạng này là “lũ điên, say rượu và khát máu”, còn lãnh đạo của nó là “lũ côn đồ tàn độc… là rác rưởi của nước Pháp.” [9]

Sự thật về cách mạng Pháp và công xã Paris: Thù hận, tanh máu, tàn độc
Paris 5/1871 và sự đốt phá của Công xã Paris. (Ảnh: Tangopaso/Wikipedia, Public Domain)

Khi Cách mạng Pháp bắt đầu, trong nội bộ nước Pháp đã hình thành sự đối lập giữa phái theo truyền thống và phản truyền thống; tình trạng này kéo dài tới tám thập kỷ sau đó. Chủ tịch danh dự của Công xã Paris nói: “Nước Pháp có hai đường lối chung: một là đường lối hợp pháp, hai là đường lối chủ quyền phổ thông… Đường lối chủ quyền phổ thông đoàn kết tất cả những người của tương lai, là quần chúng đã mệt mỏi vì bị bóc lột, đang tìm cách đập tan cái khuôn khổ bức ép họ đến ngạt thở.” [10]

Sự cực đoan của Công xã Paris phần nào bắt nguồn từ những ý tưởng đầy thù hận của Henri de Saint-Simon, một người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng, cho rằng phúc lợi của một quốc gia phải tỷ lệ thuận với số công nhân. Ông ta chủ trương giết hại người giàu vì cho rằng họ là những kẻ ăn bám. Khi đó bầu không khí là “Những kẻ vô sản giống như đạo tặc chuẩn bị đoạt lấy tài sản vậy.”

Trong cuốn “Nội chiến Pháp” (The Civil War in France), Marx gọi Công xã Paris là nhà nước cộng sản: “Phe đối lập trực tiếp với đế quốc chính là Công xã. Cùng với tiếng gọi ‘cộng hòa xã hội’, Cách mạng Tháng 2 của giai cấp vô sản Paris đã nổ ra, cho thấy yêu cầu kiến lập một nền cộng hòa không chỉ thay thế chế độ quân chủ của giai cấp thống trị, mà còn thay thế bản thân giai cấp thống trị. Công xã chính là hình thức vô cùng xác đáng của nền cộng hòa đó.” Ngoài ra, ông ta còn viết: “Công xã muốn tiêu diệt giai cấp tư hữu vốn biến sức lao động của đa số thành sự giàu có của thiểu số.” [11]

Công xã Paris khai phá những đặc tính của cách mạng cộng sản: Tháp Vendôme tưởng niệm Napoleon, anh hùng của Pháp, bị đánh đổ; giáo hội bị cướp đoạt tài sản, tu sỹ bị thảm sát, trường học bị cấm giảng lời răn và giáo lý. Bọn nổi loạn khoác lên tượng các thánh bộ y phục hiện đại và cắm tẩu thuốc vào miệng họ.

Những người cánh hữu thời đó thấy rằng, Công xã chính là một cách gọi khác của việc thu gom tài sản của người giàu, phân chia lại rồi làm cộng sản. Chủ nghĩa nữ quyền cũng làm mưa làm gió. Phụ nữ thậm chí còn xúi giục nam giới phóng hỏa đốt các tác phẩm nghệ thuật. Một người Trung Quốc tên là Trương Đức Di đã miêu tả lại tình cảnh lúc đó như sau: “Hung hăng, phản loạn không chỉ có nam giới thô lỗ, mà ngay cả phụ nữ cũng góp phần vào vụ tàn phá này. Đi đến đâu, tan hoang đến đó. Ở thì ở nhà lầu đình các, ăn thì ăn cao lương mỹ vị, khoái lạc trước mắt, không biết cái chết gần kề. Khi ở vào thế thất bại thì cướp bóc, đốt cháy lầu các sạch trơn. Cả nửa thành phố đẹp hiếm có ấy đã trở thành tro tàn. Lúc đó, hàng trăm phụ nữ nổi loạn bị bắt, họ nhanh chóng nhận tội rằng đa số phụ nữ là những kẻ đầu trò phóng hỏa.” [12]

Từ đó mà nhìn, những hành động điên cuồng trước khi Công xã Paris bị diệt vong chẳng có gì là lạ. Ngày 23/5/1871, trước khi chính quyền của Công xã bị công phá ở hàng phòng ngự cuối cùng, đã hạ lệnh đốt cháy Cung điện Luxembourg (hiện là Thượng Nghị viện Pháp), Cung điện Tuileries, và Cung điện Louvre. Nhà hát Paris, Tòa Thị chính Paris, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Hoàng cung Paris, và cả những tòa nhà cao cấp và các nhà hàng hào hoa ở hai bên Đại lộ Champs-Élysées cũng bị phá hủy: “Thà tiêu hủy những thứ này, chứ không để lại cho kẻ địch.”

7 giờ tối, các thành viên Công xã mang theo dầu, nhựa đường và dầu thông phóng hỏa ở nhiều nơi. Cung điện Tuileries lộng lẫy nguy nga, vàng son ngọc ngà của Pháp (là chính cung của đế quốc thứ hai và vương triều Bourbon) đã hóa thành tro. Những kẻ phóng hỏa còn định đốt luôn cả Cung điện Louvre ở gần đó, nhưng may thay, quân đội của Adolphe Thiers đến kịp và dập tắt hỏa hoạn. [13]

Sau Công xã Paris, Marx nhanh chóng căn cứ vào sự kiện này mà xem xét lại lý luận của bản thân, điều “chỉnh sửa” duy nhất trong “Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản” là giai cấp công nhân cần phải đập nát và tiêu hủy “bộ máy quốc gia hiện hành”, chứ không chỉ đơn giản là đoạt lấy bộ máy ấy.

Trích đăng có chỉnh sửa từ Minghui.org

Mời xem video:

Tài liệu tham khảo:

[1] Friedrich Engels, “On Authority,” Marx-Engels Reader (W. W. Norton and Co.).

[2] Anonymous, “Robespierre’s Epitaph.” (https://www.rc.umd.edu/editions/warpoetry/1796/1796_2.html)

[3] The New Cambridge Modern History, Vol. IX (Cambridge: Cambridge University Press, 1965), 280–281.

[4] Miguel A. Faria Jr., The Economic Terror of the French Revolution,Hacienda Publishing.

[5] Gregory Fremont-Barnes, Encyclopedia of the Age of Political Revolutions and New Ideologies, 1760–1815 (Greenwood, 2007).

[6] William Henley Jervis, The Gallican Church and the Revolution (Kegan Paul, Trench, & Co.).

[7] W. Cleon Skousen, The Naked Communist (Izzard Ink Publishing).

[8] John M. Merriman, Massacre: The Life and Death of the Paris Commune (Basic Books).

[9] Như trên

[10] Louis Auguste Blanqui, “Speech Before the Society of the Friends of the People,” Selected Works of Louis-Auguste Blanqui.

[11] Karl Marx,The Civil War in France (Marxists Internet Archive).

[12] Zhang Deyi, The Third Diary of Chinese Diplomat Zhang Deyi.

[13] Merriman, Massacre: The Life and Death of the Paris Commune.